Nông sản Việt Nam trước bài toán nâng giá trị và xây thương hiệu
Giai đoạn tăng trưởng hai con số về kim ngạch đang đưa ngành nông sản bước vào thời kỳ tái cấu trúc mang tính quyết định, nơi lợi thế về thổ nhưỡng và quy mô sản lượng thô buộc phải nhường chỗ cho kỷ luật kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và năng lực định vị thương hiệu trên trường quốc tế.
Bước nhảy vọt về quy mô và dư địa mở rộng từ các thị trường mới
Giai đoạn 2022 - 2025 ghi nhận kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng từ 15% đến 16% mỗi năm, vượt xa mức tăng bình quân khoảng 9% của toàn ngành ngoại thương. Năng lực cung ứng nhiệt đới được củng cố với 1,2 triệu ha cây ăn trái, đạt sản lượng 13 triệu tấn mỗi năm và hiện diện tại hơn 60 quốc gia như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Cùng lúc, gạo, hạt điều, hồ tiêu và cà phê tiếp tục giữ thị phần tại hơn 150 thị trường. Ngành rau củ cũng vươn lên với diện tích gieo trồng 1 triệu ha và sản lượng xấp xỉ 16 triệu tấn mỗi năm. Riêng tại EU, nơi nhập khẩu khoảng 14 tỷ EUR thực phẩm từ ASEAN, hàng Việt Nam chiếm khoảng 25%. Sự tăng trưởng hơn 22% mỗi năm của thương mại điện tử B2B tại châu Âu cùng nhu cầu tìm kiếm nguồn cung mới từ Trung Đông, Đông Nam Á và Hàn Quốc đang mở ra dư địa tiêu thụ rất lớn cho các chuỗi nông sản đạt chuẩn.

Lợi thế thuế quan chạm trần và sức ép từ hàng rào tiêu chuẩn xanh
Dù vậy, ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do không còn đủ sức tạo lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định. Các thị trường tiêu chuẩn cao đang đồng loạt siết chặt hàng rào kỹ thuật về kiểm dịch thực vật, vệ sinh dịch tễ và tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật.
Đáng chú ý, các yêu cầu phát triển bền vững như quy định chống phá rừng, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon hay tiêu chuẩn kiểm soát hải sản khai thác bất hợp pháp đã chuyển từ khuyến khích sang quy định pháp lý bắt buộc để được cấp phép thông quan. Tại các hệ thống bán lẻ hiện đại, nông sản nếu thiếu chứng nhận độc lập như Global GAP, canh tác hữu cơ hay kiểm soát mối nguy theo chuẩn HACCP sẽ lập tức bị loại khỏi kệ hàng, biến tiêu chuẩn kỹ thuật thành tấm vé thông hành sống còn.
Bài toán khép kín chuỗi cung ứng và gia tăng hàm lượng chế biến sâu
Để thích ứng với các rào cản kỹ thuật ngày càng dày đặc, ngành nông nghiệp buộc phải chấm dứt tình trạng canh tác phân tán để xây dựng chuỗi giá trị khép kín, kiểm soát đồng bộ từ khâu tuyển chọn giống thuần, quy hoạch vùng chuyên canh đến công nghệ bảo quản lạnh sau thu hoạch. Dữ liệu số hóa vùng trồng chính là hộ chiếu kỹ thuật giúp nông sản vượt qua các đợt kiểm dịch ngặt nghèo của nước nhập khẩu.
Đồng thời, giải pháp căn cơ để thoát khỏi cái bẫy phụ thuộc mùa vụ của hàng tươi nằm ở chế biến sâu thông qua sấy thăng hoa, chiết xuất và đóng gói tiện lợi nhằm gia tăng biên lợi nhuận và tối ưu chi phí vận chuyển đường dài. Việc chủ động đa dạng hóa danh mục sản phẩm và phân bổ nhiều thị trường tiêu thụ cũng là chiếc phao bảo vệ doanh nghiệp trước những cú sốc rào cản biên mậu đơn phương.

Chuyển dịch tư duy bán hàng và xây dựng thương hiệu quốc gia
Tập quán xuất khẩu nguyên liệu thô để đối tác nước ngoài gia công, đóng gói thương hiệu trong nhiều năm qua đã làm xói mòn giá trị kinh tế của nông sản Việt Nam. Thực tế thị trường hiện đại đòi hỏi một cuộc chuyển đổi dứt khoát từ tư duy bán những gì nông dân sẵn có sang sản xuất chính xác thứ thị trường quốc tế yêu cầu, lấy giá trị gia tăng trên mỗi héc-ta đất và thu nhập thực tế của người trồng trọt làm thước đo thay vì chạy theo kỷ lục sản lượng.
Uy tín thương hiệu nông sản quốc gia không thể bồi đắp bằng các chiến dịch quảng bá ngắn hạn, mà phải bắt rễ từ sự đồng nhất về chất lượng, tính minh bạch nguồn gốc và trách nhiệm sinh thái. Khi các chuẩn mực quốc tế được thực thi nghiêm túc, nông sản Việt mới có thể xác lập vị thế độc lập và cạnh tranh sòng phẳng trên bản đồ thương mại toàn cầu.
Bảo An
