Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 8 tỷ USD, tăng trưởng chuyển hướng về thị trường châu Á
Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đạt 8 tỷ USD, tăng 11,8%, nhưng đà tăng chậm lại. Trung Quốc - Hồng Kông và ASEAN bù đắp thị trường suy yếu, trong khi truy xuất nguồn gốc, thuế thương mại và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng quyết định sức cạnh tranh.
Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong tháng 8/2026 đạt 1,14 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 8,00 tỷ USD, tăng 11,8%. Tuy nhiên, mức tăng này đã thấp hơn con số 12,8% ghi nhận trong 7 tháng đầu năm.
Trung Quốc - Hồng Kông tiếp tục giữ nhịp tăng trưởng
Trong bối cảnh một số thị trường chủ lực suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông và ASEAN đang trở thành những điểm tựa quan trọng của ngành thủy sản. Xu hướng này có thể tiếp tục rõ nét hơn trong quý IV, khi thuế thương mại và các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc tác động trực tiếp đến khả năng duy trì đơn hàng.

Riêng Trung Quốc - Hồng Kông, kim ngạch xuất khẩu tháng 8 đạt 287,7 triệu USD, tăng 26,2%. Tính chung 8 tháng, thị trường này mang về 2,03 tỷ USD, tăng 33,4%, chiếm 25,35% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
Theo VASEP, Trung Quốc - Hồng Kông tạo thêm khoảng 508,61 triệu USD, tương đương 60,17% phần tăng của toàn ngành. Nhu cầu đối với tôm, cá tra, cua ghẹ và cá biển là những yếu tố hỗ trợ chính.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ trong tháng 8 giảm 11,4%, xuống 167,74 triệu USD. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 1,24 tỷ USD, gần như đi ngang. Tôm và cá tra giảm mạnh, trong khi cá ngừ, cua ghẹ và nhuyễn thể vẫn duy trì tăng trưởng.
Tại EU, kim ngạch 8 tháng giảm 1,6%, còn 749,9 triệu USD, chủ yếu do tôm và cá ngừ suy yếu. Nhật Bản tăng 2%, đạt 1,11 tỷ USD; Hàn Quốc tăng 4,9%, lên 566,3 triệu USD.
Đáng chú ý, ASEAN đạt 544,9 triệu USD, tăng 20% trong 8 tháng. Riêng tháng 8, xuất khẩu sang khu vực này tăng 31%.
Tôm dẫn đầu, nhưng áp lực thuế gia tăng
Tôm tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, với kim ngạch tháng 8 đạt 485,5 triệu USD, tăng 5,7%. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu tôm đạt 3,29 tỷ USD, tăng 12,3%, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch thủy sản.
Trung Quốc - Hồng Kông là động lực tăng trưởng chính, với kim ngạch 1,13 tỷ USD, tăng 37,6%. Trong tháng 8, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản tăng 10%, Hàn Quốc tăng 16% và ASEAN tăng 48%.
Trong khi đó, thị trường Mỹ tiếp tục gây áp lực. Kim ngạch xuất khẩu tôm tháng 8 giảm 22%, còn 70 triệu USD; lũy kế 8 tháng giảm 13,4%, xuống 427,6 triệu USD. EU cũng giảm 18% trong tháng và giảm 2,7% trong 8 tháng.
Theo VASEP, thuế Điều 301 ở mức 12,5%, cao hơn mức 10% của một số đối thủ, đang làm gia tăng bất lợi về giá. Kết quả sơ bộ rà soát thuế chống bán phá giá cũng tăng đáng kể; kết quả cuối cùng dự kiến công bố cuối tháng 9 sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến đơn hàng quý IV.
Nếu mức thuế vẫn cao, dòng hàng có thể tiếp tục chuyển hướng sang châu Á, đồng thời tạo thêm áp lực lên giá bán. Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu, mà còn vào khả năng kiểm soát chi phí và duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cá tra tăng nhờ các thị trường ngoài Mỹ
Xuất khẩu cá tra tháng 8 đạt 194,8 triệu USD, tăng 0,4%. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9%.
Trung Quốc - Hồng Kông tăng 26,5%, đạt 435,21 triệu USD. EU cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi xuất khẩu cá tra tăng 42,04% trong tháng 8 và tăng 11,4% trong 8 tháng, đạt 131,7 triệu USD.
Nguồn cung cá thịt trắng tự nhiên tại châu Âu thiếu hụt, trong khi giá cá tuyết cao, đang tạo thêm dư địa cho cá tra Việt Nam.
Tuy nhiên, Mỹ vẫn là mắt xích yếu nhất. Kim ngạch xuất khẩu cá tra sang thị trường này trong tháng 8 chỉ đạt 12,5 triệu USD, giảm 54,8%. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 201,7 triệu USD, giảm 13,9%.
Kết quả cuối cùng POR21 được công bố ngày 12/8 không thuận lợi, với thuế chống bán phá giá tăng mạnh, khiến nhà nhập khẩu thận trọng hơn. Theo đó, cá tra khó có khả năng phục hồi nhanh tại Mỹ; tăng trưởng sẽ tiếp tục dựa vào Trung Quốc, EU, ASEAN, Trung Đông và các thị trường ngách.
Cá ngừ chững lại, các nhóm hải sản tăng chọn lọc
Xuất khẩu cá ngừ tháng 8 đạt 78,1 triệu USD, giảm 11%. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 622 triệu USD, chỉ tăng 0,5%.
Mỹ tăng 8%, đạt 247,7 triệu USD, nhưng EU giảm 20%, còn 113,6 triệu USD. Riêng tháng 8, xuất khẩu cá ngừ sang EU giảm 43,6%.
Giá cá ngừ vằn nguyên liệu tại Bangkok tăng trở lại, trong khi cạnh tranh về ưu đãi thuế tại EU và yêu cầu nguồn gốc đang thu hẹp biên lợi nhuận. ASEAN tăng 30,7% trong tháng 8, nhưng chưa đủ bù đắp sự suy yếu của hai thị trường lớn.
Ở nhóm mực và bạch tuộc, kim ngạch tháng 8 đạt 75 triệu USD, tăng 5,7%; lũy kế 8 tháng đạt 524 triệu USD, tăng 14,4%. Hàn Quốc tăng 18,7% và ASEAN tăng 33,1%.
Nguồn cung mực tại Hàn Quốc giảm, giá bán lẻ tăng và Trung Quốc đẩy mạnh nhập khẩu đã hỗ trợ nhu cầu. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu trong nước vẫn hạn chế, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả khai thác, nuôi trồng và chế biến.
Xuất khẩu cua ghẹ và giáp xác khác đạt 55 triệu USD trong tháng 8, tăng 50,7%. Lũy kế 8 tháng, kim ngạch đạt 304,9 triệu USD, tăng 34%.
Mỹ tăng gấp đôi, đạt 84,7 triệu USD; Trung Quốc - Hồng Kông tăng 41,8%, lên 154,7 triệu USD. Việc Mỹ công nhận tính tương đương đối với nghề ghẹ bơi Việt Nam và tòa án bác vụ kiện liên quan đã giúp giảm một phần bất định pháp lý.
Đối với nhuyễn thể hai mảnh vỏ, kim ngạch tháng 8 đạt 29,4 triệu USD, tăng 30,9%. Lũy kế 8 tháng, xuất khẩu đạt 209,6 triệu USD, tăng 30,8%.
EU tăng 29,5%, Mỹ tăng 96%, trong khi Trung Quốc - Hồng Kông giảm 30,8%. Nghêu mở rộng tại Tây Ban Nha, Italy và Mỹ; sò điệp tăng nhanh một phần nhờ gia công, tái xuất nguyên liệu nhập khẩu.
Phát triển bền vững trở thành điều kiện cạnh tranh
Từ tháng 9 đến cuối năm, nhu cầu lễ hội và chu kỳ bổ sung tồn kho có thể giúp kim ngạch duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chính sách thương mại, khả năng đáp ứng hồ sơ và chất lượng nguồn nguyên liệu.
Với tôm, kết quả thuế chống bán phá giá cuối tháng 9 cùng thuế Điều 301 sẽ chi phối đơn hàng Mỹ, giá chào và tốc độ chuyển hướng thị trường. Với cá tra, POR21 khiến triển vọng tại Mỹ kém thuận lợi hơn, trong khi EU và Trung Quốc tiếp tục là hai điểm bù quan trọng.
Đối với cá ngừ, mực - bạch tuộc và các nhóm hải sản khai thác khác, thẻ vàng IUU, hệ thống CATCH của EU và yêu cầu truy xuất sâu hơn sẽ hạn chế khả năng tận dụng đơn hàng. Tại Mỹ, MMPA yêu cầu hồ sơ chứng minh tính hợp lệ đối với các mã hàng bị gắn cờ. Đây vừa là hàng rào kỹ thuật, vừa là yếu tố phân loại nhà cung cấp.
Từ góc độ phát triển bền vững, những yêu cầu này cho thấy doanh nghiệp thủy sản không thể chỉ cạnh tranh bằng giá. Việc kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, bảo đảm tính hợp pháp của hoạt động khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động môi trường đang trở thành một phần của năng lực xuất khẩu.
Đối với ngành khai thác, tuân thủ IUU không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản và duy trì sinh kế lâu dài cho cộng đồng ngư dân. Trong nuôi trồng và chế biến, việc sử dụng hiệu quả thức ăn, nước, năng lượng, giảm hao hụt và nâng cao tỷ lệ chế biến sâu cũng có thể giúp doanh nghiệp cải thiện sức cạnh tranh.
Mốc 12 tỷ USD vẫn khả thi, nhưng tăng trưởng sẽ phân hóa
Vượt mốc 12 tỷ USD trong năm 2026 vẫn là mục tiêu khả thi nếu nhu cầu tại Trung Quốc - Hồng Kông duy trì và đơn hàng mùa cao điểm không bị gián đoạn.
Tuy nhiên, đà tăng trong quý IV có thể thấp hơn 8 tháng đầu năm. Tôm có dấu hiệu chậm lại, cá tra dựa nhiều hơn vào thị trường ngoài Mỹ, cá ngừ khó bứt phá, trong khi mực - bạch tuộc, cua ghẹ và nhuyễn thể là những điểm sáng chọn lọc.
Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đang chuyển từ cuộc đua về sản lượng sang cuộc đua về thị trường, hồ sơ và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững. Doanh nghiệp nào chủ động được nguồn nguyên liệu hợp pháp, minh bạch chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả sản xuất sẽ có lợi thế tốt hơn trong việc duy trì đơn hàng, bảo vệ biên lợi nhuận và phát triển thị trường dài hạn.
Nhị Hà
