Ngân hàng cần thêm lực đẩy để tháo gỡ điểm nghẽn nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống vẫn trong tầm kiểm soát, nhưng quy mô nợ xấu, nợ nhóm 2 và lãi dự thu cùng tăng trong khi bộ đệm dự phòng mỏng dần. Khi cơ chế giữ nguyên nhóm nợ đã khép lại và quyền thu giữ tài sản bảo đảm vừa được luật hóa, bài toán lúc này là biến quyền thành kết quả thu hồi nợ thực tế
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, không tính 5 ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt, đến cuối tháng 6/2026 giảm về 1,51% từ mức 1,69% cuối năm ngoái. Nếu tính cả nhóm này, tỷ lệ cuối tháng 5 là 3,43%; tỷ lệ nợ xấu gộp, gồm nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn, khoảng 3,9%. Sáu tháng đầu năm, toàn hệ thống xử lý 141,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó 62,2% bằng dự phòng rủi ro và 26,1% do khách hàng trả nợ.

Theo thống kê từ báo cáo tài chính cho thấy nợ xấu nhóm 3-5 tại thời điểm 30/6 vượt 310.000 tỷ đồng, tăng gần 48.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 18% so với cuối năm 2025; tỷ lệ nợ xấu bình quân tăng từ 1,85% lên 2,01%, mức cao nhất trong nhiều năm.
Theo TCBS, đà tăng mang tính cục bộ: riêng Sacombank chiếm 77,7% mức tăng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết trong quý II, với tỷ lệ nợ xấu 7,54%, trong khi 26 ngân hàng còn lại giảm tỷ lệ từ 2,02% xuống 1,78%. Sự phân hóa cũng thể hiện ở năng lực chống đỡ: Vietcombank giữ tỷ lệ nợ xấu 0,61% và tỷ lệ bao phủ 279%, cao nhất hệ thống.
Ba tín hiệu cảnh báo từ chất lượng tài sản
Thứ nhất là nợ nhóm 2. Tỷ lệ này tăng lên 1,38% tại quý II từ mức đáy 1,17% cuối năm 2025, sau 10 quý giảm liên tục; tỷ lệ nợ nhóm 2-5 cũng tăng hai quý liền, lên 3,39%. Theo TCBS, giai đoạn cải thiện nhờ chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đã chính thức khép lại, còn phần nợ nhóm 2 tăng thêm có thể thành nợ xấu trong một đến hai quý tới.
Thứ hai là bộ đệm dự phòng. Trích lập dự phòng tăng 14,7% trong khi nợ xấu tăng 16,1%, kéo tỷ lệ bao phủ nợ xấu xuống 78,8%, so với 143,2% vào quý III/2022. Theo số liệu của Wigroup, nhiều ngân hàng giảm bao phủ rõ rệt so với cùng kỳ: BIDV từ 100% xuống 76%, TPBank từ 92% xuống 67%, ABBank từ 120% xuống 87%.

Thứ ba là lãi dự thu. Lãi và phí phải thu đạt 230.745 tỷ đồng, tăng 36,1% so với cùng kỳ, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ và tương đương 1,5% tổng dư nợ. Khoản này chỉ bị thoái khỏi thu nhập khi khoản vay chuyển sang nhóm 2 trở lên, nên mức tăng nhanh cho thấy một phần dư nợ nhóm 1 có thể đã chậm trả lãi mà tỷ lệ nợ xấu chung chưa phản ánh hết.
TS. Châu Đình Linh, giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM, nhận định việc hệ thống phải dựa chủ yếu vào dự phòng, thay vì nguồn thu từ khách hàng tự trả, cho thấy nợ xấu đã chuyển sang giai đoạn tổn thất thực tế, hoặc ngân hàng đang chủ động khoanh vùng những khoản vay có vấn đề lớn. Theo ông, doanh nghiệp còn chịu chi phí đầu vào tăng, lãi suất cao hơn và khó khăn khi xử lý tài sản bảo đảm do bất động sản kém thanh khoản.
Áp lực từ bất động sản và lãi suất
Rủi ro thanh khoản của bất động sản đang phủ trực tiếp lên chất lượng tài sản ngân hàng. Theo NHNN, đến cuối tháng 8/2026 dư nợ tín dụng bất động sản khoảng 5,23 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 25% tổng dư nợ nền kinh tế, trong đó dư nợ kinh doanh bất động sản tăng 19,59% so với cuối năm 2025. Theo VBMA, năm nay có gần 204.000 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn, riêng nhóm bất động sản hơn 124.700 tỷ đồng, chiếm 61,1%.
Ở phía người vay, lãi suất thả nổi 12-15%/năm đối với nhiều khoản vay mua nhà, theo Avison Young, làm tăng áp lực trả nợ. SSI Research dự báo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành cuối năm 2026 khoảng 1,8%, nhích lên so với 1,76% cuối năm 2025, nợ nhóm 2 khoảng 1,4% và tỷ lệ bao phủ giảm về quanh 85%; theo đơn vị này, rủi ro đã mở rộng nhưng chưa đến mức mang tính hệ thống.
Hành lang pháp lý đã có, thực thi mới là phép thử
Về thể chế, Luật sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, thông qua ngày 27/6/2025 và có hiệu lực từ 15/10/2025, đã luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tiếp nối Nghị quyết 42 hết hiệu lực từ đầu năm 2024. Nghị định 304/2025/NĐ-CP, hiệu lực từ 1/12/2025, quy định điều kiện tài sản được thu giữ; với tài sản là chỗ ở duy nhất, tổ chức tín dụng phải trích khoản tiền tương đương 12 tháng lương tối thiểu để hỗ trợ bên bảo đảm. Trước đó, Hiệp hội Ngân hàng từng phản ánh khi không còn cơ chế này, ngân hàng chỉ có thể khởi kiện ra tòa, làm chậm và tăng chi phí xử lý.
Tuy vậy, theo các phân tích pháp lý, thách thức lớn nhất không còn là có thêm quyền, mà là quyền đó được thực thi ổn định, minh bạch và có thể tiên liệu. Với tài sản là bất động sản, vướng mắc còn nằm ở đầu ra: Bộ Xây dựng cho biết giá chung cư và đất nền thứ cấp quý III tiếp tục giảm, thanh khoản thấp, lượng tồn kho khoảng 51.950 căn, lô, nền và có xu hướng tăng. Khi thị trường khó hấp thụ, tài sản thu giữ được chưa chắc bán được đúng giá.
Hoàng Nguyễn
