Giá cao su tăng cao, cổ phiếu ngành diễn biến trái chiều
Giá cao su thế giới tăng lên vùng cao nhiều năm trong năm 2026 do lo ngại nguồn cung. Tuy nhiên, cổ phiếu doanh nghiệp cao su phân hóa do khác biệt về lợi nhuận và triển vọng kinh doanh.
Nguồn cung cao su chịu sức ép từ thời tiết và chi phí
Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Kỹ thương (TCBS), từ cuối tháng 9 đến ngày 12/10/2026, giá cao su kỳ hạn trên các sàn giao dịch quốc tế tiếp tục đi lên, chạm vùng cao nhất trong nhiều năm. Xu hướng này được thúc đẩy bởi những lo ngại về nguồn cung tại Thái Lan và hiện tượng El Niño, trong khi nhu cầu lốp xe tại Trung Quốc chưa có dấu hiệu phục hồi rõ rệt.
Tại phiên ngày 12/10, giá cao su kỳ hạn trên sàn SHFE đạt 20.640 nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su TSR20 trên sàn SGX được giao dịch ở mức 261,6 US cent/kg. Trong khi đó, giá cao su SMR20 tại Malaysia đạt 1.074,5 sen/kg, còn giá cao su trên sàn Osaka lên 459,8 yen/kg.

Đà tăng của mặt hàng này diễn ra trong bối cảnh hoạt động sản xuất cao su thiên nhiên tại một số quốc gia chịu ảnh hưởng bất lợi từ thời tiết. Theo TCBS, tính đến ngày 29/9, lũ lụt đã xảy ra tại khoảng 42 tỉnh của Thái Lan, quốc gia xuất khẩu cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới. Khoảng 23.000 ha cao su tại khu vực miền Đông bị thiệt hại, ảnh hưởng đến giai đoạn khai thác từ tháng 9 đến tháng 11, thời kỳ đóng góp hơn 30% sản lượng mủ cao su của nước này.
Tại Malaysia, sản lượng cao su thiên nhiên trong tháng 8/2026 giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Cùng thời điểm, lượng tồn kho cao su tại Thanh Đảo, Trung Quốc, đạt 575.200 tấn vào ngày 27/9, thấp hơn đáng kể so với mức 696.800 tấn ghi nhận hồi tháng 6.
Bên cạnh yếu tố thời tiết, diễn biến giá dầu cũng góp phần hỗ trợ giá cao su thiên nhiên. Theo số liệu trong báo cáo TCBS, giá dầu Brent tăng khoảng 80% kể từ đầu tháng 3/2026. Báo cáo đồng thời ghi nhận giá mủ cao su ngày 9/10 cao hơn 59,7% so với cùng kỳ. Mặt bằng giá dầu tăng làm gia tăng áp lực chi phí đối với cao su tổng hợp, qua đó có thể cải thiện lợi thế cạnh tranh tương đối của cao su thiên nhiên.
Tuy nhiên, sức cầu vẫn là yếu tố hạn chế triển vọng tăng giá. Kể từ tháng 9/2026, Trung Quốc đã phát đi hơn 70 thông báo điều chỉnh tăng giá lốp xe chỉ báo, với mức tăng phổ biến từ 8 - 10%, song nhu cầu thị trường vẫn được đánh giá ở mức yếu. Điều này cho thấy giá cao su hiện được hỗ trợ chủ yếu bởi những hạn chế về nguồn cung, trong khi lực cầu chưa thực sự tạo được động lực tương xứng.
Về triển vọng dài hạn, TCBS dẫn dự báo của Hiệp hội Các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) cho rằng thị trường cao su thiên nhiên có thể thiếu hụt khoảng 101.000 tấn trong năm 2026. Nếu tình trạng nguồn cung hạn chế và thời tiết bất lợi tiếp diễn, giá cao su có thể tiếp tục chịu ảnh hưởng trong những tháng cuối năm.
Cổ phiếu cao su biến động theo chu kỳ, mức tăng không đồng đều
Diễn biến trên thị trường chứng khoán cho thấy giá cổ phiếu các doanh nghiệp cao su có mối liên hệ nhất định với chu kỳ giá hàng hóa. Tuy nhiên, mức độ tăng giảm giữa các mã có sự khác biệt đáng kể.
Theo thống kê của TCBS, trong giai đoạn từ tháng 6/2025 đến tháng 9/2026, cổ phiếu DRI tăng 49,7%, TRC tăng 39,4%, PHR tăng 12,6% và GVR tăng 11,3%. Trong khi đó, DPR gần như đi ngang, với mức tăng chỉ 0,8%.
Ở chu kỳ tăng giá trước đó, từ tháng 8/2023 đến tháng 2/2025, nhóm cổ phiếu này ghi nhận mức sinh lời cao hơn. TRC tăng 161,5%, DRI tăng 103,2%, GVR và DPR cùng tăng 56,3%, còn PHR tăng 29,7%.
Ngược lại, trong giai đoạn giá cao su đi xuống từ tháng 2/2025 đến tháng 6/2025, toàn bộ các mã được thống kê đều giảm giá. DRI mất 19,9%, TRC giảm 16,7%, DPR giảm 12,6%, GVR giảm 8,3% và PHR giảm 7,1%.
Sự khác biệt giữa các giai đoạn cho thấy biến động giá cao su không phải yếu tố duy nhất quyết định hiệu suất cổ phiếu. Khả năng kiểm soát chi phí, cơ cấu nguồn thu, hiệu quả hoạt động và kỳ vọng của thị trường đối với từng doanh nghiệp cũng có thể tác động đáng kể đến giá cổ phiếu.
TCBS nhận định giá cao su thường có xu hướng biến động trước cổ phiếu, nhưng thời điểm và mức độ phản ánh không cố định. Do đó, việc phân tích nhóm cổ phiếu này cần đặt diễn biến giá hàng hóa trong mối tương quan với kết quả kinh doanh, định giá và triển vọng riêng của từng doanh nghiệp.
DRI có độ nhạy cao với giá cao su, TRC phản ứng thận trọng hơn
Xét mối tương quan giữa giá cổ phiếu và giá cao su, DRI là mã có mức độ liên hệ nổi bật trong nhóm doanh nghiệp được TCBS phân tích. Hệ số tương quan giữa giá cổ phiếu DRI và giá cao su TSR20 đạt 0,62 theo quý. Trong khi đó, hệ số tương quan giữa DRI và giá cao su SHFE đạt 0,54 trong 52 tuần gần nhất.
Ở chiều ngược lại, mức tương quan của một số cổ phiếu thấp hơn. Trong 52 tuần gần nhất, hệ số tương quan giữa TRC và giá cao su SHFE ở mức 0,21, còn DPR đạt 0,46.
Mức độ phản ứng của giá cổ phiếu trước biến động giá cao su cũng khác nhau tùy theo thời gian quan sát. Theo thống kê của TCBS, khi giá cao su SHFE tăng 10%, giá cổ phiếu DRI tăng bình quân 7,7% theo tuần, 12,5% theo tháng và 15,5% theo quý.

Với các mã còn lại, mức tăng tương ứng theo tuần, tháng và quý lần lượt là 4,6%, 8,4% và 7,2% đối với DPR; 5,2%, 11,3% và 12,2% đối với GVR; 3,6%, 9,5% và 9,6% đối với PHR; 3,2%, 7,2% và 7,3% đối với TRC.
Như vậy, DRI có mức phản ứng cao nhất trong cả ba khung thời gian được thống kê. Trong khi đó, TRC ghi nhận mức phản ứng thấp nhất theo tuần và tháng, dù từng là một trong những cổ phiếu tăng mạnh nhất trong chu kỳ giá cao su đi lên trước đó.
Theo TCBS, nhà đầu tư cần phân biệt mối tương quan trong ngắn hạn với xu hướng dài hạn khi đánh giá cổ phiếu cao su. Giá nguyên liệu tăng không đồng nghĩa cổ phiếu sẽ tăng ngay lập tức, bởi thị trường có thể đã phản ánh kỳ vọng từ trước hoặc doanh nghiệp chịu tác động từ những yếu tố riêng liên quan đến lợi nhuận.
Doanh thu, lợi nhuận tăng nhưng định giá cổ phiếu có sự chênh lệch
Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 của năm doanh nghiệp cao su được TCBS theo dõi đều ghi nhận doanh thu tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tốc độ tăng lợi nhuận, biên lợi nhuận gộp và các chỉ số định giá cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các doanh nghiệp.
Theo số liệu TCBS tổng hợp, DRI đạt doanh thu 489,9 tỷ đồng, tăng 61,4%; lợi nhuận sau thuế đạt 142,2 tỷ đồng, tăng 82,8%. Biên lợi nhuận gộp đạt 40,6%, tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ.
Tại phiên ngày 12/10, cổ phiếu DRI đóng cửa ở mức 16.800 đồng, tăng 38,6% so với đầu năm. Các chỉ số định giá gồm P/E 5,5 lần, P/B 1,54 lần và ROE 31%.
DPR ghi nhận doanh thu 659,9 tỷ đồng, tăng 63,3%, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 58,1%. Dù doanh thu và lợi nhuận cùng tăng, biên lợi nhuận gộp của doanh nghiệp giảm 1 điểm phần trăm, xuống 39,2%.
Cổ phiếu DPR có giá 37.550 đồng vào ngày 12/10, giảm 1,2% so với đầu năm. P/E của doanh nghiệp ở mức 9,1 lần, P/B 1,20 lần và ROE 13,5%.
Đối với GVR, doanh thu 6 tháng đạt 15.927,7 tỷ đồng, tăng 37,7%; lợi nhuận sau thuế đạt 4.413,9 tỷ đồng, tăng 67,7%. Tuy nhiên, biên lợi nhuận gộp giảm 1,5 điểm phần trăm, còn 28,3%.
Chốt phiên ngày 12/10, cổ phiếu GVR ở mức 32.400 đồng, tăng 23,7% từ đầu năm. P/E đạt 18,5 lần, P/B 2,14 lần và ROE 12%.
PHR là doanh nghiệp ghi nhận tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế cao nhất trong nhóm. Cụ thể, doanh thu đạt 874,6 tỷ đồng, tăng 28,7%, trong khi lợi nhuận sau thuế lên 643,4 tỷ đồng, tăng 244,9%. Biên lợi nhuận gộp đạt 29,3%, giảm 0,4 điểm phần trăm.
Dù lợi nhuận tăng mạnh, cổ phiếu PHR mới tăng 3,5% so với đầu năm, lên 32.850 đồng vào ngày 12/10. Các chỉ số P/E, P/B và ROE lần lượt ở mức 8,6 lần, 1,72 lần và 22,1%.
Trong khi đó, TRC đạt doanh thu 402,4 tỷ đồng, tăng 12,3%; lợi nhuận sau thuế đạt 141,8 tỷ đồng, tăng 34,7%. Biên lợi nhuận gộp giảm 6,9 điểm phần trăm, xuống 29,2%, mức giảm lớn nhất trong nhóm được thống kê.
Cổ phiếu TRC đóng cửa ngày 12/10 ở mức 24.600 đồng, tăng 33% từ đầu năm. P/E đạt 10,3 lần, P/B 1,32 lần và ROE 13,6%.
Xét về hiệu quả kinh doanh, PHR nổi bật với mức tăng lợi nhuận sau thuế 244,9%, trong khi DRI có mức tăng lợi nhuận 82,8% cùng ROE đạt 31%. Tuy nhiên, sự cải thiện về lợi nhuận chưa chuyển hóa thành mức tăng giá cổ phiếu tương ứng ở tất cả doanh nghiệp.
Tính đến ngày 12/10, DPR là mã duy nhất trong nhóm giảm giá so với đầu năm, còn PHR tăng 3,5%. Trong khi đó, DRI tăng 38,6%, TRC tăng 33% và GVR tăng 23,7%.
Theo TCBS, giá cao su đi lên có thể hỗ trợ biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp trong ngành, nhưng mức độ hưởng lợi trên thực tế còn tùy thuộc vào cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản xuất và các nguồn thu khác. Vì vậy, việc đánh giá triển vọng cổ phiếu cần kết hợp cả diễn biến thị trường hàng hóa, chất lượng lợi nhuận và mức định giá của từng doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, nguồn cung cao su tại Đông Nam Á, diễn biến thời tiết và sức cầu lốp xe tại Trung Quốc sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng đối với thị trường. Trong bối cảnh giá cao su đang ở vùng cao nhiều năm, mức độ nhạy cảm với giá nguyên liệu cùng khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận sẽ là những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các cổ phiếu trong ngành.
P.V
