Sacombank: Dự phòng tăng hơn 6 lần, nợ xấu tăng gần 20%
Tín dụng Sacombank chỉ tăng 1,54% trong 6 tháng đầu năm, nhưng nợ xấu tăng 19,48%, trong khi nợ nhóm 2 tăng tới 261,24%. Chi phí dự phòng tăng hơn 542%, kéo lợi nhuận trước thuế giảm 43,6%.
Dự phòng tăng hơn 6 lần, lợi nhuận trước thuế giảm 43,6%
Theo báo cáo tài chính hợp nhất soát xét 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank, mã: STB) ghi nhận thu nhập lãi thuần 12.289 tỷ đồng, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước.
Diễn biến này đáng chú ý khi dư nợ cho vay khách hàng đến cuối tháng 6 đạt 636.029 tỷ đồng, tăng 1,5% so với cuối năm 2025.
Ở chiều ngược lại, các hoạt động ngoài tín dụng ghi nhận kết quả tích cực. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 3.952 tỷ đồng, tăng gần 140% so với cùng kỳ năm 2025. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối cũng tăng 29%, lên 689 tỷ đồng.

Tổng chi phí hoạt động trong 6 tháng ở mức 6.233 tỷ đồng, giảm 12,5%. Nhờ kết hợp giữa tăng thu nhập và kiểm soát chi phí, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 11.255 tỷ đồng, tăng tới 33,4%.
Trong 6 tháng đầu năm, Sacombank ghi nhận 7.119 tỷ đồng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, tăng hơn 542% so với mức 1.108 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Đây là nguyên nhân chính khiến lợi nhuận trước thuế chỉ còn 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 2.931 tỷ đồng, giảm 49,4%.
Nợ xấu tăng gần 20%, nợ nhóm 2 gấp 3,6 lần
Tính đến ngày 30/6/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng gộp của Sacombank đạt 636.028,9 tỷ đồng, tăng 1,54% so với mức 626.392,3 tỷ đồng cuối năm 2025.
Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng khá thấp nhưng chất lượng dư nợ lại biến động mạnh. Nợ nhóm 1 giảm từ 581.597,6 tỷ đồng xuống 571.245,1 tỷ đồng, khiến tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm từ 92,85% xuống 89,81%.

Trong khi đó, nợ nhóm 2 tăng mạnh từ 4.658 tỷ đồng lên 16.826,7 tỷ đồng, tương đương tăng 261,24%, tức gấp khoảng 3,6 lần cuối năm 2025. Tỷ trọng nhóm nợ này cũng tăng từ 0,74% lên 2,65% tổng dư nợ.
Ở các nhóm nợ xấu, nợ nhóm 3 tăng 4,04%, từ 6.920,4 tỷ đồng lên 7.200,2 tỷ đồng. Đáng chú ý hơn, nợ nhóm 4 tăng tới 156,26%, từ 3.310,3 tỷ đồng lên 8.483 tỷ đồng.
Nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn tăng 7,92%, lên 32.273,9 tỷ đồng. Khoản mục này chiếm 5,08% tổng dư nợ và khoảng 67,3% tổng nợ xấu nội bảng của Sacombank.
Tổng nợ xấu nội bảng, gồm nợ nhóm 3, 4 và 5, tăng từ 40.136,8 tỷ đồng lên 47.957,1 tỷ đồng, tương đương tăng 19,48% chỉ sau 6 tháng. Tỷ lệ nợ xấu theo số liệu trên tăng từ 6,41% lên 7,54%.
Như vậy, trong khi tổng dư nợ chỉ tăng 1,54%, quy mô nợ xấu lại tăng gần 20%. Đây là một trong những điểm đáng quan tâm nhất trong bức tranh tín dụng của Sacombank nửa đầu năm 2026.
Xét theo ngành nghề, danh mục tín dụng của Sacombank đang tập trung lớn nhất ở nhóm hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ.
Đến ngày 30/6, dư nợ đối với nhóm ngành này đạt 232.352 tỷ đồng, chiếm 36,5% tổng dư nợ, tăng 34,8% so với cuối năm 2025.
Đứng thứ hai là nhóm bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy với dư nợ 91.567,8 tỷ đồng, chiếm 14,4% tổng dư nợ, giảm 2,27% so với cuối năm 2025.
Dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 58.685,4 tỷ đồng, chiếm 9,23%; cho vay xây dựng đạt 57.763,4 tỷ đồng, chiếm 9,08%.
Trong khi đó, dư nợ bất động sản đạt 30.659,8 tỷ đồng, chiếm 4,82% tổng dư nợ và tăng 4,45% so với cuối năm 2025.
CASA tăng 15,22%, LDR giảm xuống dưới 100%
Ở phía huy động, tổng tiền gửi khách hàng tại Sacombank đến cuối tháng 6 đạt 647.939 tỷ đồng, tăng 4,79% so với cuối năm 2025.
Đáng chú ý, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng 15,22%, lên 106.636 tỷ đồng, cao hơn đáng kể tốc độ tăng của tiền gửi có kỳ hạn, ở mức 2,98%. Nhờ đó, tỷ lệ CASA được cải thiện từ 14,97% cuối năm 2025 lên 16,46% vào cuối tháng 6.
CASA tăng là điểm tích cực đối với cơ cấu nguồn vốn, bởi tiền gửi không kỳ hạn thường có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn. Diễn biến này tạo thêm dư địa để Sacombank giảm áp lực chi phí vốn trong bối cảnh thu nhập lãi thuần 6 tháng đầu năm giảm 8,62%.
Tuy nhiên, với CASA ở mức 16,46%, phần lớn tiền gửi của ngân hàng vẫn đến từ các khoản có kỳ hạn. Do đó, khả năng tiếp tục mở rộng nguồn vốn giá rẻ sẽ là một yếu tố quan trọng đối với biên lãi thuần trong thời gian tới.
Đáng chú ý, tiền gửi khách hàng tăng nhanh hơn đáng kể so với tín dụng. Trong khi tiền gửi tăng 4,79%, dư nợ cho vay chỉ tăng 1,54%.
Tại ngày 30/6, ông Dương Công Minh -Chủ tịch HĐQT đang nắm 62,6 triệu cổ phiếu, tương ứng 3,32% vốn điều lệ Sacombank.
Sự chênh lệch này giúp tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) thuần được cải thiện. Cuối năm 2025, LDR thuần của Sacombank ở mức 101,3%; đến ngày 30/6/2026 giảm 3,14 điểm phần trăm, xuống 98,16%.
Trước áp lực nợ xấu, Sacombank đã tăng đáng kể quy mô dự phòng cho vay khách hàng. Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng cuối tháng 6 đạt 27.177 tỷ đồng, tăng 35,5% so với cuối năm 2025.
Nếu đặt cạnh tổng nợ xấu khoảng 47.957 tỷ đồng, mức dự phòng tương ứng khoảng 56,7%.
Việc tăng trích lập là tín hiệu cho thấy ngân hàng đang chủ động sử dụng nguồn lực để củng cố bộ đệm rủi ro. Tuy nhiên, tỷ lệ dự phòng bao phủ nợ xấu tính theo các số liệu trên chưa đạt 100%, trong khi nợ xấu đã tăng gần 20% chỉ trong 6 tháng.
Điều này đồng nghĩa áp lực dự phòng có thể tiếp tục là biến số quan trọng đối với lợi nhuận Sacombank trong thời gian tới, đặc biệt nếu quá trình xử lý và thu hồi nợ gặp khó khăn.
Bên cạnh tín dụng, cơ cấu tài sản của Sacombank cũng có một số thay đổi đáng chú ý.
Trong 6 tháng, danh mục chứng khoán đầu tư tăng 10,8%, lên 102.112 tỷ đồng. Trong đó, chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán tăng mạnh từ 33.048 tỷ đồng lên 53.160 tỷ đồng, tương đương hơn 60%.
Ngược lại, chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn giảm khoảng 15,5%, còn 56.782 tỷ đồng.
Trong khi đó, tài sản khác tăng 28,6%, lên 19.686 tỷ đồng. Các khoản phải thu đạt 13.325 tỷ đồng, tăng hơn 31% so với cuối năm 2025. Đây cũng là nhóm số liệu cần được theo dõi trong bối cảnh ngân hàng đang phải gia tăng trích lập dự phòng.
Tổng tài sản của Sacombank cuối tháng 6 giảm 2,7%, xuống 892.049 tỷ đồng. Một nguyên nhân đáng chú ý là tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng giảm mạnh, còn 129.927 tỷ đồng, giảm 24,7% so với cuối năm 2025.
Chất lượng tài sản là bài toán lớn của Sacombank
Bức tranh 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy Sacombank đang đứng trước một nghịch lý: hiệu quả hoạt động kinh doanh trước dự phòng cải thiện rõ rệt, nhưng lợi nhuận cuối cùng lại suy giảm mạnh do chi phí xử lý rủi ro tín dụng tăng cao.
Tổng thu nhập hoạt động tăng 12,3%, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng tăng 33,4%, nhưng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng hơn 542%, kéo lợi nhuận trước thuế giảm 43,6%.
Ở mảng tín dụng, tổng dư nợ chỉ tăng 1,54%, trong khi nợ xấu tăng 19,48%. Đáng chú ý, nợ nhóm 2 tăng tới 261,24%, nợ nhóm 4 tăng 156,26%, còn nợ nhóm 5 tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nợ xấu.
Trong khi đó, cơ cấu tín dụng cũng chuyển dịch theo hướng tăng mạnh dư nợ trung hạn, mở rộng cho vay tổ chức kinh tế và thu hẹp cho vay cá nhân. Ở phía nguồn vốn, tiền gửi tăng nhanh hơn tín dụng, CASA cải thiện và LDR thuần giảm xuống dưới 100%.
Tín dụng xanh – một trụ cột trong chiến lược ESG của Sacombank
Sacombank đang đẩy mạnh tài chính xanh như một phần trong chiến lược ESG. Tháng 10/2025, ngân hàng ra mắt Gói Tài chính Xanh Sacombank Eco, gồm tiền gửi Xanh, thẻ tín dụng Visa Platinum O₂, vay lĩnh vực xanh và bảo hiểm sức khỏe. Gói sản phẩm này sau đó được vinh danh Top 10 Sản phẩm - Dịch vụ Xanh & Bền vững năm 2025.
Trong năm 2026, Sacombank tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển tín dụng xanh, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường. Ngân hàng cũng cho biết ESG được tích hợp vào chiến lược phát triển, hoạt động tín dụng và quá trình phát triển sản phẩm.
Một điểm đáng chú ý là Quỹ Sống Xanh gắn với Gói Tài chính Xanh. Sacombank cho biết 70% quỹ được định kỳ chuyển đổi thành tín chỉ carbon hoặc đóng góp cho các dự án trồng rừng, năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng.
Nhị Hà
