BVBank lãi lớn sau nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng ấn tượng, nợ xấu chưa thể xem nhẹ
Lợi nhuận trước thuế đạt 547,4 tỷ đồng, gấp hơn 5,8 lần cùng kỳ năm trước, trong khi tổng tài sản vượt mốc 141.900 tỷ đồng. Bức tranh kinh doanh sáu tháng đầu năm 2026 của ngân hàng thoạt nhìn rất tươi sáng.
Tuy nhiên, đằng sau con số tăng trưởng ấn tượng là những chi tiết đáng chú ý: động lực đến chủ yếu từ cho vay, mảng dịch vụ ghi nhận lỗ, còn nợ xấu và mức dự phòng là điểm cần theo dõi.
Theo số liệu công bố, lợi nhuận trước thuế sáu tháng đầu năm 2026 đạt 547,4 tỷ đồng, so với 93,4 tỷ đồng của cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 437,2 tỷ đồng, so với 74,4 tỷ đồng. Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) tăng từ 135 đồng lên 682 đồng.

Cần lưu ý rằng mức tăng gấp gần sáu lần được tính trên một nền lợi nhuận thấp của năm 2025. Vì vậy, con số tăng trưởng phần trăm nghe rất lớn, nhưng điều có ý nghĩa hơn là quy mô tuyệt đối: lợi nhuận sau thuế sáu tháng đạt 437,2 tỷ đồng, đủ để nhìn nhận đây là sự cải thiện thực chất chứ không chỉ là hiệu ứng nền thấp.
Một chi tiết nhỏ nhưng đáng chú ý là EPS tăng khoảng 5,05 lần, thấp hơn mức tăng gần 5,9 lần của lợi nhuận sau thuế. Theo tính toán, điều này cho thấy số cổ phiếu bình quân đang lưu hành đã tăng lên so với cùng kỳ. Cụ thể, lợi nhuận chia cho EPS ở kỳ này tương ứng khoảng 641 triệu cổ phiếu, phù hợp với vốn điều lệ 6.408,2 tỷ đồng. Nói cách khác, lợi nhuận mỗi cổ phần tăng chậm hơn tổng lợi nhuận do quy mô vốn đã được mở rộng.
Thu nhập lãi thuần, khoản chênh lệch giữa tiền lãi thu được và tiền lãi phải trả, đạt 1.680,2 tỷ đồng, tăng 46,3% so với 1.148,6 tỷ đồng cùng kỳ. Ngân hàng cho biết mức tăng đến từ thu nhập lãi vay và tiền gửi tăng trưởng mạnh. Tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 1.840,6 tỷ đồng, tăng 48,4%.

Theo tính toán, thu nhập lãi thuần chiếm khoảng 91,3% tổng thu nhập hoạt động, và đóng góp khoảng 88,6% mức tăng của TOI (tăng thêm khoảng 531,6 tỷ trong tổng mức tăng gần 600,3 tỷ đồng). Đây là mô hình kinh doanh quen thuộc của ngân hàng truyền thống, nhưng cũng có nghĩa kết quả kinh doanh nhạy cảm với biến động lãi suất và chất lượng tín dụng.
Kinh doanh ngoại hối ghi nhận lãi thuần 72,6 tỷ đồng, tăng từ 53,3 tỷ đồng. Hoạt động khác đạt lãi thuần 113,4 tỷ đồng, tăng mạnh so với 24,7 tỷ đồng cùng kỳ, tức gấp khoảng 4,6 lần. Báo cáo không nêu rõ cấu thành của khoản này. Trong phân tích ngân hàng, các khoản thu nhập khác thường biến động từng kỳ và khó dự báo, nên người đọc cần thận trọng khi giả định mức đóng góp này sẽ duy trì.
Ngược lại, hoạt động dịch vụ ghi nhận lỗ thuần 28,3 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2025 lãi 14,5 tỷ đồng. Lỗ thuần dịch vụ nghĩa là chi phí cho hoạt động dịch vụ vượt thu nhập từ phí. Số liệu hiện có không đủ để xác định nguyên nhân, nhưng đây là xu hướng ngược chiều với bức tranh chung và cần được theo dõi, nhất là khi ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào thu nhập lãi.
Chi phí hoạt động (OPEX) tăng 12,2% lên 920,4 tỷ đồng, thấp hơn nhiều so với mức tăng 48,4% của tổng thu nhập hoạt động. Theo tính toán, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) vì thế giảm từ khoảng 66,1% xuống khoảng 50,0%. Nói đơn giản, nếu trước đây ngân hàng tốn khoảng 66 đồng chi phí để tạo ra 100 đồng thu nhập, nay con số này chỉ còn khoảng 50 đồng. Đây là một tín hiệu tích cực về hiệu quả vận hành.

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng là 372,7 tỷ đồng, tăng 14,1%. Cũng theo tính toán, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng đạt khoảng 920,2 tỷ đồng, gấp hơn hai lần mức khoảng 420,0 tỷ đồng cùng kỳ. Phần dự phòng chiếm khoảng 40,5% khoản lợi nhuận trước dự phòng này, giảm mạnh so với mức khoảng 77,8% của năm trước. Điều đó giải thích vì sao lợi nhuận trước thuế tăng nhanh hơn rất nhiều so với doanh thu: khi thu nhập tăng mạnh còn chi phí và dự phòng tăng chậm, lợi nhuận được khuếch đại.
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản đạt 141.974,4 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm. Cho vay khách hàng đạt 83.385,1 tỷ đồng, tăng 7,3%. Huy động tiền gửi khách hàng đạt 81.338,1 tỷ đồng, tăng 13,9%, gần gấp đôi tốc độ tăng của tín dụng.
Vốn chủ sở hữu đạt 7.921,6 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ giữ nguyên ở mức 6.408,2 tỷ đồng, nghĩa là phần vốn ngoài vốn điều lệ, chủ yếu từ các quỹ và lợi nhuận lưu giữ, vào khoảng 1.513,4 tỷ đồng. Theo tính toán, vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 5,6% tổng tài sản, một mức đệm vốn tương đối khiêm tốn so với quy mô bảng cân đối hơn 141.000 tỷ đồng. Nếu tăng trưởng tiếp tục, nhu cầu bổ sung vốn trong các giai đoạn tới là điều có thể đặt ra.
Tổng nợ xấu (nhóm 3 đến nhóm 5) đạt 2.686,1 tỷ đồng, trong đó nợ dưới tiêu chuẩn 432,3 tỷ đồng, nợ nghi ngờ 523,7 tỷ đồng và nợ có khả năng mất vốn 1.730,1 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu ở mức khoảng 3,22% tổng dư nợ, tăng nhẹ so với khoảng 3,01% hồi cuối năm 2025.

Mức tăng 0,21 điểm phần trăm nghe có vẻ nhỏ, nhưng cần đặt trong bối cảnh tổng dư nợ tăng 7,3%. Theo ước tính từ tỷ lệ nợ xấu cuối năm trước, nợ xấu tuyệt đối đầu năm vào khoảng 2.340 tỷ đồng, nghĩa là nợ xấu đã tăng khoảng 15% trong nửa năm, nhanh gấp đôi tốc độ tăng của dư nợ. Con số này là ước tính vì tỷ lệ cuối năm 2025 được nêu ở dạng xấp xỉ.
Cơ cấu nợ xấu cũng đáng chú ý: nhóm 5 chiếm khoảng 64,4% tổng nợ xấu, nghĩa là phần lớn là các khoản được đánh giá có khả năng mất vốn. Về bản chất, đây là nhóm khó thu hồi nhất và có thể kéo dài thời gian xử lý.
Về dự phòng, số dư trích lập cho vay khách hàng đạt 1.170,5 tỷ đồng, tương đương khoảng 1,4% dư nợ. So với tổng nợ xấu 2.686,1 tỷ đồng, số dư dự phòng chỉ đủ bao phủ khoảng 43,6%. Cần nói công bằng rằng tỷ lệ bao phủ chưa phản ánh giá trị tài sản bảo đảm của các khoản vay, vốn là một lớp đệm bổ sung khi xử lý nợ xấu. Nhưng nếu chỉ tính trên số dư dự phòng, mức bao phủ này thấp, và là lý do khiến thị trường thường theo dõi kỹ các đợt trích lập tiếp theo cũng như kết quả thu hồi nợ.
Dự theo BCTC ngân hàng công bố, có thể thấy rằng nửa đầu năm 2026 ghi nhận bước tiến rõ rệt về khả năng sinh lời. Thu nhập lãi thuần tăng mạnh, chi phí được kiểm soát tốt, tỷ lệ chi phí trên thu nhập cải thiện đáng kể, và gánh nặng dự phòng trên lợi nhuận giảm. Nguồn vốn huy động từ khách hàng tăng nhanh hơn tín dụng, cho thấy cấu trúc vốn có xu hướng ổn định hơn.
Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đánh giá rằng, có bốn điểm cần theo dõi. Một là sự phụ thuộc lớn vào thu nhập lãi thuần, trong khi mảng dịch vụ đang lỗ. Hai là chất lượng lợi nhuận, khi một phần tăng trưởng đến từ khoản thu nhập khác chưa rõ cấu thành và khó duy trì đều đặn. Ba là chất lượng nợ: tỷ lệ nợ xấu vượt 3%, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng, nhóm 5 chiếm tỷ trọng lớn, và dự phòng bao phủ khoảng 43,6%. Bốn là đệm vốn chủ sở hữu tương đối khiêm tốn so với quy mô tài sản.
Hoàng Nguyễn
