Quản lý thuế thương mại điện tử đồng bộ hướng tới minh bạch và bền vững
Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử không chỉ tạo thêm động lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận hàng hóa, dịch vụ, mà còn góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Thực tiễn quản lý thuế thương mại điện tử đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý thuế
Chủ động nhận diện thách thức trong môi trường số
Thực tiễn quản lý thuế thương mại điện tử (TMĐT) đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý thuế. Trong bối cảnh ấy, việc ban hành Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCT và Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCT của Cục Thuế đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao của ngành Thuế trong việc tăng cường kỷ cương quản lý, chống thất thu ngân sách và xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch.
Thời gian qua, TMĐT duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 25%/năm; năm 2025, quy mô bán lẻ ước đạt 31 tỷ USD, chiếm khoảng 11% tổng mức bán lẻ hàng hóa, với khoảng 60% dân số tham gia mua sắm trực tuyến, TMĐT trở thành một trong những lĩnh vực phát triển năng động, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tiêu dùng, đổi mới mô hình kinh doanh và mở rộng không gian phát triển của nền kinh tế số.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động TMĐT nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Dữ liệu giao dịch điện tử còn phân tán, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và chưa được kết nối, chia sẻ hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan; việc xác định chủ thể kinh doanh, doanh thu, dòng tiền, nghĩa vụ thuế trong môi trường số còn gặp nhiều vướng mắc. Tình trạng chậm đăng ký thuế, chậm kê khai, kê khai chưa đầy đủ, chưa chính xác của một bộ phận tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, nhà cung cấp ở nước ngoài vẫn còn xảy ra.
Bên cạnh đó, hiện tượng gian lận thuế, trốn thuế, che giấu doanh thu, chia nhỏ giao dịch, thanh toán qua nhiều trung gian, lợi dụng khoảng trống pháp lý và sự khác biệt về không gian địa lý, phương thức kinh doanh tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, tính công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế và nguồn thu NSNN.
Thực tiễn này đòi hỏi ngành Thuế phải đổi mới phương thức quản lý, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu lớn, quản lý rủi ro, kết nối thông tin liên ngành, qua đó nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo, kiểm tra và tổ chức thực thi pháp luật thuế đối với hoạt động kinh doanh trên môi trường điện tử.
Định hình mô hình quản lý thuế hiện đại lấy dữ liệu và công nghệ làm nền tảng
Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCT xác định mục tiêu xuyên suốt là xây dựng hệ thống quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế số và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phân tích dữ liệu lớn, quản lý rủi ro; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế với các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm và nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.
Phấn đấu đến năm 2030 cơ bản hoàn thành chuyển đổi phương thức quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT sang quản lý trên nền tảng dữ liệu số, kết nối liên thông và quản lý rủi ro; bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các loại hình kinh doanh truyền thống và kinh doanh trên nền tảng số, góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia hiện đại, bền vững.
Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong toàn ngành Thuế.
Một trong những điểm nhấn của Nghị quyết là việc triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Từ năm 2026 đến năm 2030, toàn ngành triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, bảo đảm phù hợp với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, sự phát triển của kinh tế số và yêu cầu hiện đại hóa quản lý thuế, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch, phù hợp với thực tiễn phát triển nhanh chóng của kinh tế số, các mô hình kinh doanh mới và hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới; bảo đảm bao quát đầy đủ các đối tượng, nguồn thu, hạn chế khoảng trống pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế.
Hai là, xây dựng danh sách người nộp thuế có hoạt động TMĐT trên phạm vi toàn ngành; thực hiện phân loại theo các nhóm chủ yếu như: sàn giao dịch TMĐT, kinh doanh qua mạng xã hội, cung cấp dịch vụ số/quảng cáo/tiếp thị/liên kết, tổ chức, cá nhân có hoạt động xuyên biên giới và các hình thức kinh doanh trong kinh tế số; Nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
Ba là, thường xuyên (tháng/quý) triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thuế đối với hoạt động TMĐT theo hướng đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng mô hình kinh doanh trên nền tảng số. Đẩy mạnh hỗ trợ tổ chức, cá nhân kinh doanh TMĐT trong nước và xuyên biên giới thực hiện đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế theo quy định; nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ, kịp thời.
Bốn là, phấn đấu số thu từ hoạt động TMĐT phù hợp tăng trưởng của thị trường TMĐT, góp phần mở rộng cơ sở thu, nâng cao tính bền vững của nguồn thu NSNN.
Năm là, chuẩn hóa thông tin, dữ liệu phục vụ quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT; xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu tập trung, đồng bộ về người nộp thuế, giao dịch, doanh thu, dòng tiền và các thông tin có liên quan.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý thuế; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, máy học (machine learning), dữ liệu lớn và phân tích rủi ro trong việc thu thập, xử lý, đối chiếu, phân tích cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả nhận diện, giám sát và quản lý nghĩa vụ thuế đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động TMĐT.
Sáu là, phối hợp với các bộ, ngành; phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan Thuế với các ngành, địa phương, UBND các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT như: tuyên truyền, xác minh thông tin, xử lý vi phạm, kiểm tra liên ngành...

Ngành Thuế quyết tâm thay đổi căn bản trong công tác quản lý thuế TMĐT trong thời gian tới
Bảy là, triển khai kiểm tra, giám sát thường xuyên theo hướng quản lý rủi ro; hằng năm, mỗi địa bàn triển khai tối thiểu từ 01 đến 02 chuyên đề kiểm tra, giám sát đối với hoạt động TMĐT; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, thực hiện chuyển hồ sơ các vụ việc có dấu hiệu vi phạm trong hoạt động kinh doanh TMĐT sang cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tám là, cơ quan thuế các cấp thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí đầu mối chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT; nâng cao năng lực điều hành, quản lý theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu quản lý thuế trong nền kinh tế số.
Chủ động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT hằng năm phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo đảm nguyên tắc “6 rõ”: rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả, rõ thẩm quyền; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Chín là, phối hợp với các tổ chức quốc tế trong quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, đặc biệt đối với các giao dịch xuyên biên giới, nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Chủ động trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tham gia các diễn đàn, sáng kiến quốc tế về quản lý thuế trong nền kinh tế số; nghiên cứu, tiếp cận và áp dụng các thông lệ tốt, chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế, chống thất thu và bảo đảm nguồn thu ngân sách trong lĩnh vực TMĐT.
Tạo chuyển biến toàn diện trong quản lý thuế TMĐT
Việc ban hành Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCT và Kế hoạch hành động triển khai thể hiện rõ quyết tâm của ngành Thuế trong việc đổi mới phương thức quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số. Đây là là bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT góp phần bảo đảm công bằng trong môi trường kinh doanh, chống thất thu ngân sách và thúc đẩy phát triển kinh tế số bền vững.
Với cách làm bài bản, lộ trình rõ ràng và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống thuế, Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tạo ra chuyển biến thực chất trong quản lý thuế đối với hoạt động TMĐT, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Hiện nay, khuôn khổ pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực TMĐT cơ bản đã hoàn thiện. Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp 4.0 liên tục thay đổi, tạo ra nhiều hành vi, nhiều hoạt động rất mới thay đổi liên tục, vì vậy rất cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện về khuôn khổ pháp luật. Trước hết là pháp luật liên quan đến nền kinh tế số cần phải có độ phổ quát cao hơn, trong đó các quy định về đối tượng nào phải chịu thuế khi diễn ra các giao dịch ở trên mạng phải được quy định cụ thể.
Ví như hiện nay, việc thu thuế thông qua hành vi dòng tiền, theo đó có thể một bộ phận người tiêu dùng, người kinh doanh không dùng tiền Việt Nam để thanh toán mà dùng các đồng tiền số, trong khi hiện nay Việt Nam chưa thừa nhận đồng tiền số và trên thực tế hiện đang diễn ra.
Vấn đề đặt ra thứ hai là, khi thu thuế trên nền tảng số thì làm thế nào để thu đúng đối tượng, tránh tình trạng trốn thuế, mất bình đẳng, mất cạnh tranh. Điều này không chỉ làm mất nguồn thu về cho Nhà nước mà còn mất bình đẳng giữa những người kinh doanh ở những lĩnh vực khác. Đơn cử, người kinh doanh thông thường thì nộp thuế đầy đủ, còn kinh doanh qua mạng, nền tảng số lại trốn thuế.
Tất cả những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về khuôn khổ pháp luật thực sự đồng bộ để cho tất cả các bên khi tham gia vào trong môi trường giao dịch trên mạng đều chịu một sự điều tiết chung mới có thể quản lý một cách hiệu quả và việc Nghị quyết số 16-NQ/ĐUCT và Kế hoạch hành động triển khai thể hiện rõ quyết tâm của ngành Thuế trong công tác quản lý thuế TMĐT và kỳ vọng những thay đổi căn bản trong công tác quản lý trong thời gian tới.
Chuyển đổi số mạnh mẽ và đồng bộ tạo sự minh bạch trong quản lý thuế TMĐT
Theo đánh giá của một số chuyên gia, trong thời gian vừa qua, nhờ áp dụng đồng bộ các giải pháp và những nỗ lực, ngành Thuế đã đạt được những kết quả khá tích cực trong công tác quản lý thuế hoạt động TMĐT.
Bằng những động thái quyết liệt như tích cực chuyển đổi số, hoàn thiện hành lang pháp lý đã bước đầu mang lại kết quả quan trọng trong quản lý thuế TMĐT, kinh doanh trên nền tảng số. Điều này cũng cho thấy, chúng ta đã nắm bắt được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng về công nghệ.
Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh TMĐT đang đặt ra thách thức rất lớn cho công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng. Đây không chỉ là thách thức với riêng Việt Nam mà với cả các nước phát triển trên thế giới. Nhiều nước trên thế giới đang rất lúng túng trong việc quản lý thu thuế hoạt động TMĐT, đặc biệt là vấn đề kinh doanh xuyên biên giới; còn thất thu thuế rất lớn từ hoạt động kinh doanh này.
Tuy vậy, với sự nỗ lực của ngành Thuế và sự phối hợp đồng bộ của các tỉnh, thành phố và các bộ, ngành có liên quan, bước đầu Việt Nam đã đạt được những thành công trong công tác quản lý thuế TMĐT. Kết quả đạt được là rất tích cực và là tiền đề để đạt thành công nêu trên là nhờ ngành Thuế đã tích cực chuyển đổi số. Đây là sự nỗ lực rất lớn của ngành Thuế Việt Nam.
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam là một trong 4 nước đi đầu trong khu vực Đông Nam Á khẳng định quyền quản lý thuế xuyên biên giới thông qua việc các nhà mạng phải kê khai thuế trên Cổng thông tin điện tử của ngành Thuế. Điều này một lần nữa cho thấy, Việt Nam đã bắt kịp được xu hướng phát triển của loại hình kinh doanh của cuộc cách mạng công nghệ này.
Thùy Linh
