An Giang truy tìm “điểm nóng” ô nhiễm đất, đặt trách nhiệm môi trường lên hàng đầu
An Giang chuẩn bị điều tra, đánh giá, khoanh vùng các khu vực có nguy cơ ô nhiễm đất, từng bước hình thành dữ liệu phục vụ kiểm soát nguồn ô nhiễm và xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm.
Trong quản trị môi trường, nhận diện được nguy cơ trước khi ô nhiễm lan rộng luôn có ý nghĩa quan trọng hơn việc chỉ xử lý khi hậu quả đã xảy ra. Với đất, yêu cầu này càng cấp thiết bởi nhiều chất ô nhiễm có khả năng tồn lưu lâu dài, tác động đến sản xuất, nguồn nước, hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.
Từ yêu cầu đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang đang triển khai bước chuẩn bị cho nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá, xác định và khoanh vùng các khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, khu vực ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn tỉnh An Giang”.
Theo Thông báo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhiệm vụ được xây dựng nhằm tham mưu UBND tỉnh thực hiện trách nhiệm được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Trọng tâm không chỉ là điều tra, đánh giá và xác định các khu vực có nguy cơ ô nhiễm mà còn xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm.
Từ “biết đất ô nhiễm” đến khoanh vùng, xác định nguồn gây ô nhiễm
Điểm đáng chú ý của nhiệm vụ lần này là phạm vi công việc không dừng ở việc lấy mẫu hay xác định một khu vực có dấu hiệu ô nhiễm.

Theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Môi trường, đơn vị tư vấn phải xây dựng đề cương thể hiện đầy đủ hiện trạng, tổng quan các vấn đề liên quan; mục tiêu, đối tượng, phạm vi; nội dung và phương pháp thực hiện; đồng thời đề xuất giải pháp điều tra, đánh giá, xác định và khoanh vùng các khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, khu vực ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn tỉnh.
Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đối với một địa phương đang đứng trước yêu cầu phát triển đồng thời trên nhiều lĩnh vực. Khi không gian sản xuất, đô thị, công nghiệp, hạ tầng và dịch vụ ngày càng mở rộng, áp lực lên tài nguyên đất cũng gia tăng. Nếu thiếu dữ liệu nền về chất lượng đất, việc kiểm soát nguy cơ ô nhiễm và đưa ra quyết định sử dụng đất sẽ khó bảo đảm tính chủ động.
Ông Võ Văn Lên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho biết, nhiệm vụ được đặt ra trước hết nhằm có đầy đủ thông tin làm cơ sở tham mưu UBND tỉnh An Giang thực hiện trách nhiệm về bảo vệ môi trường đất theo quy định pháp luật.
Từ góc độ quản trị, đây chính là phần việc có ý nghĩa nền tảng: muốn xử lý ô nhiễm phải biết ô nhiễm ở đâu, phạm vi đến đâu, mức độ thế nào và nguyên nhân từ đâu. Quan trọng hơn, khi nguồn gây ô nhiễm được xác định, trách nhiệm môi trường mới có thể được đặt đúng chủ thể.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc điều tra, đánh giá, xác định và khoanh vùng các khu vực có nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, khu vực ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn; đồng thời xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm. Thông báo của Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang đang cụ thể hóa yêu cầu này thành một nhiệm vụ điều tra có phương pháp và sản phẩm cụ thể.
Điều đó cũng cho thấy quan điểm bảo vệ môi trường đang dịch chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa và cảnh báo sớm.
Một khu vực được xác định có nguy cơ không đồng nghĩa với việc đã kết luận đó là “điểm ô nhiễm”. Nhưng việc nhận diện nguy cơ giúp cơ quan quản lý biết nơi nào cần tiếp tục khảo sát, quan trắc, kiểm soát hoạt động phát sinh chất thải hoặc có biện pháp bảo vệ phù hợp.
Nếu làm tốt, dữ liệu từ nhiệm vụ sẽ trở thành cơ sở quan trọng cho các quyết định liên quan đến đất đai, đầu tư, sản xuất và bảo vệ môi trường. Đây cũng là điều kiện để nguyên tắc phát triển kinh tế không đánh đổi bằng suy giảm chất lượng tài nguyên được thực hiện thực chất hơn.
11 đơn vị được mời tham gia, đặt yêu cầu cao về năng lực và tính cạnh tranh
Để thực hiện nhiệm vụ, Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang mời các tổ chức, đơn vị tư vấn trong và ngoài tỉnh có đủ điều kiện, năng lực, kinh nghiệm tham gia lập đề cương và kinh phí. Nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ dự kiến từ nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường năm 2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường. Chi phí lập đề cương thực hiện theo quy định và được thanh toán khi UBND tỉnh An Giang có quyết định phê duyệt đề cương.
Theo Thông báo, hồ sơ tham gia gồm 2 bộ, trong đó phải có văn bản đề nghị tham gia; đề cương và nội dung dự toán kinh phí; hồ sơ năng lực của đơn vị. Đề cương phải làm rõ từ sự cần thiết, cơ sở pháp lý, hiện trạng, mục tiêu, phạm vi đến phương pháp, giải pháp điều tra, kế hoạch, tiến độ, tổ chức thực hiện và sản phẩm dự kiến.

Đáng chú ý, Sở yêu cầu đơn vị tham gia cung cấp các hợp đồng tương tự đã ký và nghiệm thu, ưu tiên các hợp đồng trong 3 năm gần nhất, cùng hồ sơ nhân sự, bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn và các tài liệu liên quan. Đây là cơ sở để đánh giá năng lực thực tế của đơn vị tư vấn trước khi triển khai một nhiệm vụ có tính chuyên môn cao.
Trong trường hợp có từ 2 đơn vị tham gia trở lên, việc xét chọn được thực hiện theo hình thức cạnh tranh. Tiêu chí ưu tiên là đơn vị có số lượng hợp đồng tương tự nhiều hơn; nếu số lượng hợp đồng bằng nhau thì xem xét tổng giá trị các hợp đồng tương tự cao hơn. Trường hợp chỉ có một đơn vị tham gia, Sở xem xét chỉ định khi đơn vị đáp ứng đủ điều kiện về chức năng và có ít nhất một hợp đồng tương tự.
Thông báo cũng được gửi đến 11 nhóm đơn vị, trường, viện và tổ chức để mở rộng phạm vi lựa chọn, trong đó có Viện Môi trường và Tài nguyên; Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP.HCM; Đại học Cần Thơ; Trường Đại học Văn Lang; Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM; Trường Đại học An Giang; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM; Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM; Hội Nước và Môi trường TP.HCM; Công ty Tài nguyên và Môi trường miền Nam và các tổ chức, đơn vị khác trong và ngoài tỉnh.
Hồ sơ được yêu cầu nộp đến 17 giờ ngày 30/9/2026 tại Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường, tầng 7, số 09 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang.
Việc lựa chọn đơn vị có năng lực vì vậy không chỉ mang ý nghĩa thủ tục. Chất lượng của đề cương, phương pháp điều tra và dữ liệu thu được sẽ quyết định giá trị sử dụng lâu dài của nhiệm vụ.
Bởi nếu dữ liệu môi trường đất chỉ dừng ở một báo cáo, giá trị sẽ rất hạn chế. Ngược lại, nếu kết quả đủ độ tin cậy để nhận diện nguy cơ, khoanh vùng, xác định nguồn gây ô nhiễm và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định, đây sẽ là một lớp hạ tầng dữ liệu môi trường phục vụ trực tiếp cho quá trình phát triển của An Giang.
Trong bối cảnh địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng cao nhưng đồng thời phải bảo vệ tài nguyên và nâng chất lượng môi trường, việc chủ động “đọc” sức khỏe của đất là bước đi cần thiết.
Và quan trọng hơn, tinh thần của nhiệm vụ không chỉ nằm ở việc tìm ra nơi đất có nguy cơ ô nhiễm, mà phải tiến thêm một bước: xác định nguyên nhân, làm rõ trách nhiệm và xây dựng giải pháp xử lý, phục hồi. Đó mới là nền tảng để tăng trưởng xanh trở thành một yêu cầu quản trị cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở một khẩu hiệu phát triển.
Nhiệm vụ tập trung vào 4 yêu cầu lớn
1. Điều tra: Thu thập đầy đủ thông tin, dữ liệu về hiện trạng môi trường đất.
2. Đánh giá: Xác định mức độ và nguy cơ ô nhiễm tại các khu vực cần quan tâm.
3. Khoanh vùng: Xác định phạm vi các khu vực có nguy cơ và khu vực ô nhiễm.
4. Quy trách nhiệm: Làm rõ tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm để có cơ sở xử lý theo quy định.
Thanh Xuân
