Doanh nghiệp F&B Việt chọn tự lực cánh sinh để giữ biên lợi nhuận
Báo cáo mới nhất về Chỉ số niềm tin cách tân năm 2026 cho thấy các doanh nghiệp ẩm thực và đồ uống Việt Nam đang dồn lực cho cuộc đua nâng cấp nội lực một cách thực dụng để đối phó với bài toán chi phí vận hành và giữ vững biên lợi nhuận.
Tại Việt Nam, quy mô ngành F&B đã chạm mốc 27,3 tỷ USD từ năm 2024 với mạng lưới khổng lồ hơn 323.000 điểm bán, và được dự báo có thể cán mốc 54,27 tỷ USD vào năm 2033. Tuy nhiên, sự phình to về mặt quy mô không đồng nghĩa với việc các ông chủ có thể kê cao gối ngủ ngon. Sức mua biến động kết hợp cùng chi phí vận hành leo thang đang biến thị trường thành một đấu trường sinh tử, nơi đổi mới sáng tạo không còn là món trang sức xa xỉ để làm thương hiệu mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để sinh tồn.
Bức tranh tâm lý của các nhà điều hành được phản ánh rõ nét qua chỉ số niềm tin đổi mới sáng tạo ngành F&B quý 1/2026 khi đạt 71 điểm. Dù con số này thấp hơn 5 điểm so với mức bình quân của các doanh nghiệp hàng đầu trong chương trình khảo sát, nó vẫn neo chắc trong vùng tăng trưởng tích cực. Đi sâu vào cấu trúc của chỉ số này, điểm đánh giá thực tế hiện tại chỉ dừng ở mức 69, cho thấy các khoản đầu tư cho công nghệ hay sản phẩm mới dù đã mang lại quả ngọt nhưng chưa thể tạo ra những cú bứt phá doanh thu ngay lập tức.
Ngược lại, điểm số dành cho kỳ vọng tương lai và cam kết rót vốn dài hạn lại nhỉnh hơn hẳn, đạt lần lượt 73 và 72 điểm. Điều này chứng tỏ giới kinh doanh không hề ăn xổi, họ chấp nhận chịu nhiệt trong ngắn hạn để kiên trì bám đuổi các mục tiêu dài hơi như xanh hóa danh mục sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm thực chất và số hóa chuỗi cung ứng lạnh.

Sự bùng nổ của nền kinh tế giao hàng đang định hình lại cách các quán ăn và thương hiệu đồ uống tiếp cận người dùng. Từ quy mô khiêm tốn 0,6 tỷ USD năm 2021, thị trường giao đồ ăn trực tuyến tại Việt Nam đã vọt lên 1,8 tỷ USD năm 2024 và liên tục mở rộng cho đến nay. Những mô hình kinh doanh mới như bếp trên mây đang sở hữu tốc độ tăng trưởng dự kiến lên tới 19%, trong khi các phân khúc như thực phẩm hữu cơ hay đồ ăn thuần chay cũng duy trì mức tăng trưởng ổn định sát hai chữ số. Rõ ràng, các doanh nghiệp đang dồn toàn lực đổi mới ở những điểm chạm gần thực khách nhất, từ việc tối ưu thuật toán đặt món, tinh gọn quy trình đóng gói đến việc thay đổi công thức cho các dòng sản phẩm có lợi cho sức khỏe.
Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá lớn vào các siêu ứng dụng giao hàng cũng đang đẩy nhiều doanh nghiệp vào thế khó khi họ phải đối mặt với áp lực chiết khấu cao và mất quyền kiểm soát dữ liệu khách hàng. Nếu không tự xây dựng được năng lực quản trị dữ liệu và các kênh tiếp cận độc lập, các thương hiệu rất dễ rơi vào cái bẫy doanh thu tăng nhưng biên lợi nhuận ngày càng mỏng.
Kết quả khảo sát quý 1/2026 của Viet Research đã bóc tách một thực tế đầy bất ngờ về cách tiếp cận công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Thay vì chọn con đường đi tắt đón đầu bằng cách vung tiền mua lại các giải pháp sẵn có từ bên ngoài, có tới 78% doanh nghiệp chọn tự nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, 75% tập trung cải tiến trực tiếp trên dây chuyền sản xuất hiện có, và 62% ưu tiên ứng dụng công nghệ số vào hệ thống quản lý nội bộ. Chỉ có vỏn vẹn 28% doanh nghiệp chọn phương án mua đứt các công nghệ ngoại nhập. Xu hướng tự lực cánh sinh này cho thấy một tư duy kinh doanh cực kỳ thực tế: trước khi nghĩ đến việc bành trướng quy mô hay tạo ra những sản phẩm mang tính cách mạng, doanh nghiệp phải ưu tiên tối ưu hóa hiệu quả vận hành hằng ngày để cắt giảm hao phí.

Thành quả thực tế từ chiến lược hướng nội này đã củng cố mạnh mẽ cho lựa chọn của các nhà quản lý khi có tới 80% đơn vị ghi nhận chất lượng sản phẩm được nâng cấp rõ rệt, 70% tiết giảm được chi phí biến đổi và 68% tăng được năng suất lao động của công nhân. Ngược lại, tác động của những đổi mới này ra thị trường bên ngoài lại có độ trễ lớn khi chỉ có 55% doanh nghiệp tăng được doanh thu và chưa đầy một phần ba mở rộng được thị phần. Khoảng cách chênh lệch 25% giữa hiệu quả vận hành nội bộ và thành quả chiếm lĩnh thị trường là minh chứng cho thấy bộ máy bên trong doanh nghiệp luôn dễ sửa chữa và tối ưu hơn việc thay đổi hành vi rút ví của người tiêu dùng trong bối cảnh thắt lưng buộc bụng hiện nay.
Trong chặng đường tiếp theo, cuộc đua giành thị phần ngành F&B tại Việt Nam được dự báo sẽ chuyển dịch hoàn toàn từ những phản ứng mang tính phòng vệ ngắn hạn sang việc xây dựng các rào cản cạnh tranh mang tính chiều sâu. Những tiêu chí cốt lõi để định vị một thương hiệu dẫn đầu sẽ không còn nằm ở việc ai mở được nhiều cửa hàng hơn hay ai chạy quảng cáo rầm rộ hơn, mà nằm ở năng lực thấu hiểu khách hàng thông qua dữ liệu lớn, quy trình vận hành xanh giảm phát thải và một hệ thống quản trị đổi mới có kỷ luật.
Bảo An
