Truy xuất nguồn gốc: "Tấm vé thông hành" của nông sản Việt
Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt rào cản kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc không còn là khái niệm xa lạ hay lựa chọn tự nguyện mà đã trở thành điều kiện sống còn để nông sản Việt Nam giữ vững vị thế trên bản đồ thương mại quốc tế.
Quý I/2026 đánh dấu bước chuyển mình lịch sử khi Việt Nam chính thức vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia, với sầu riêng là mặt hàng tiên phong.
Ngày 26/12/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức ra mắt Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam nền tảng số phục vụ việc ghi nhận, quản lý và tra cứu thông tin nguồn gốc đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và lưu thông trên thị trường. Đây là dấu mốc lớn trong tiến trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, truy xuất nguồn gốc không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Người tiêu dùng ngày nay không chỉ quan tâm đến giá cả, mà đặc biệt chú trọng tới nguồn gốc, chất lượng, độ an toàn, tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của sản phẩm. Hệ thống này không chỉ là một giải pháp công nghệ, mà còn là công cụ quản lý hiện đại, góp phần phòng chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, đồng thời thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng minh bạch, có trách nhiệm và bền vững.

Bước sang quý I/2026, chương trình thí điểm chính thức được khởi động từ ngày 1/1/2026 với sản phẩm đầu tiên là quả sầu riêng, mặt hàng tỷ đô, đang chiếm hơn 46% kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước và có trên 90% sản lượng xuất sang thị trường Trung Quốc. Hiện đã có 6 doanh nghiệp xuất khẩu sầu riêng tham gia thử nghiệm toàn bộ chuỗi sản xuất cung ứng, tiến hành cấp và gắn tem xác thực điện tử (tích hợp công nghệ QR/NFC/RFID do Bộ Công an phát hành) cho các lô hàng đáp ứng yêu cầu. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến ngày 30/6/2026, sau đó đánh giá toàn diện để vận hành chính thức từ ngày 1/7/2026 với hầu hết các nông sản quan trọng phục vụ tiêu dùng thực phẩm.
Trước khi hệ thống số hóa quốc gia ra đời, "tấm vé thông hành" thiết yếu nhất cho nông sản xuất khẩu chính là mã số vùng trồng (Production Unit Code - PUC). Đây là mã số định danh cho một vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm theo dõi và kiểm soát tình hình sản xuất, kiểm soát sinh vật gây hại và truy xuất nguồn gốc nông sản khi xuất khẩu.
Không có mã số vùng trồng, nông sản Việt Nam gần như không có cửa vào các thị trường lớn theo đường chính ngạch. Trung Quốc, thị trường tiêu thụ lớn nhất của nông sản Việt với 22,1% thị phần trong quý I/2026 từ lâu đã yêu cầu bắt buộc mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói như điều kiện tiên quyết để thông quan. Các thị trường khó tính hơn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Australia cũng có những đòi hỏi tương tự, thậm chí còn khắt khe hơn về dư lượng hóa chất và tính bền vững.
Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, ngày 24/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP quy định về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, văn bản pháp lý quan trọng nhất từ trước đến nay về lĩnh vực này. Nghị định quy định rõ thủ tục cấp mã, quy trình tự giám sát của tổ chức, cá nhân, cơ chế kiểm tra định kỳ của cơ quan thẩm quyền địa phương và hướng phân cấp mạnh cho Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, thay vì tập trung đầu mối như trước. Đây là bước cải cách hành chính quan trọng, giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống còn tối đa 12 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Thời điểm Việt Nam ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia không phải ngẫu nhiên. Cùng lúc đó, một "đồng hồ đếm ngược" đang tích tắc từ phía Trung Quốc: Lệnh 280 của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), ban hành tháng 10/2025, sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, thay thế Lệnh 248 áp dụng từ năm 2022.
Khác với Lệnh 248, Lệnh 280 đặt yêu cầu kiểm soát từ gốc chuỗi giá trị vùng trồng, quy trình canh tác, cơ sở chế biến thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm ở điểm cuối là cửa khẩu. Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm của doanh nghiệp phải đạt chuẩn quốc tế như HACCP; toàn bộ thông tin trên hồ sơ đăng ký, bao bì sản phẩm và khai báo hải quan phải hoàn toàn nhất quán. Bất kỳ thay đổi nào về địa chỉ sản xuất, người đại diện pháp lý hay giấy phép kinh doanh đều kéo theo việc đình chỉ mã xuất khẩu và phải đăng ký lại hoàn toàn.

Hiện tại, trong số hơn 3.000 doanh nghiệp Việt Nam liên quan đến xuất khẩu thực phẩm sang Trung Quốc, chỉ khoảng 280 doanh nghiệp đã tham gia các buổi cập nhật thông tin do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức vào tháng 3/2026. Kinh nghiệm từ các đợt gia hạn theo Lệnh 248 cho thấy không ít doanh nghiệp "đến sát hạn mới làm hồ sơ", gây tắc nghẽn cửa khẩu và thiệt hại lớn cho nông sản tươi. Các chuyên gia cảnh báo, nếu doanh nghiệp không hoàn thiện thủ tục kịp thời, hoạt động xuất khẩu sang Trung Quốc có thể bị gián đoạn hoàn toàn sau ngày 1/6/2026.
Những nỗ lực xây dựng hạ tầng truy xuất nguồn gốc đang được phản ánh rõ nét qua kết quả xuất khẩu. Quý I/2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025, với giá trị xuất siêu đạt 4,78 tỷ USD. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu với thị phần 22,1% và mức tăng trưởng 37,6% so với cùng kỳ trong đó rau quả tăng 76,2%, thủy sản tăng 52%, cà phê tăng tới 80%. Riêng sầu riêng mặt hàng đầu tiên được áp dụng thí điểm truy xuất nguồn gốc số ghi nhận mức tăng xuất khẩu sang Trung Quốc gần 400%.
Con số tăng trưởng ấn tượng này không tách rời khỏi nền tảng mà ngành nông nghiệp đã kiên trì xây dựng trong nhiều năm: hàng triệu mã số vùng trồng được cấp và quản lý, hàng nghìn cơ sở đóng gói đạt chuẩn, hàng trăm nghìn nông hộ dần hình thành thói quen ghi chép nhật ký canh tác. Chính những "viên gạch" này đã tạo nên nền móng cho Hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia vừa được ra mắt.
Dù hướng đi đúng đắn, hành trình phổ cập truy xuất nguồn gốc đến từng vùng trồng, từng hộ nông dân Việt Nam vẫn còn rất nhiều chông gai.
Yêu cầu để được cấp mã số vùng trồng đã tương đối rõ ràng: vùng canh tác tối thiểu 0,1 ha với cây hàng năm và tối thiểu 1 ha với cây lâu năm; phải ghi chép đầy đủ nhật ký canh tác; kiểm soát sinh vật gây hại theo quy định; chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón được phép lưu hành tại Việt Nam và nước nhập khẩu. Tuy nhiên, với nhiều nông hộ nhỏ lẻ ở Đồng bằng sông Cửu Long hay Tây Nguyên chỉ canh tác vài sào đất, sản xuất theo kinh nghiệm và bán qua thương lái những yêu cầu này vẫn là rào cản khó vượt.
Đáng mừng là xu hướng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị đang ngày càng được đẩy mạnh. Mô hình hợp tác xã kiểu mới, liên kết nông hộ dưới một mã số vùng trồng chung, đang được nhiều địa phương nhân rộng. Đây chính là hướng đi phù hợp: gộp các hộ nhỏ vào chuỗi quản lý lớn hơn, chia sẻ chi phí tuân thủ và cùng được hưởng lợi từ quyền truy cập thị trường chính ngạch.
Theo lộ trình của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ ngày 1/7/2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ vận hành chính thức và mở rộng ra hầu hết các nông sản quan trọng; từ năm 2027, triển khai đến toàn bộ nông sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, đồng thời thí điểm với nông sản nhập khẩu. Đến năm 2035, toàn bộ chuỗi giá trị nông sản Việt Nam sẽ được kết nối liên thông trong một hệ sinh thái dữ liệu số thống nhất, từ vùng trồng đến quầy bán lẻ cả trong nước lẫn quốc tế.
Tầm nhìn đó không chỉ nhằm mục đích thông quan hàng hóa. Khi toàn bộ chuỗi giá trị được số hóa và minh bạch, truy xuất nguồn gốc sẽ không còn là "tấm vé thông hành" tối thiểu mà trở thành nền tảng xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam trên trường quốc tế, nơi mỗi quả sầu riêng, mỗi tôm cá, mỗi hạt cà phê đều mang theo câu chuyện về nguồn gốc, quy trình và trách nhiệm của người sản xuất.
Tiến Hoàng
