0922 281 189 [email protected]
Thứ sáu, 18/04/2025 11:18 (GMT+7)

Nghị định 87/2025/NĐ-CP quy định giảm tiền thuê đất năm 2024

Theo dõi KT&TD trên

Giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2024 đối với người sử dụng đất thuộc đối tượng quy định.

Nghị định 87/2025/NĐ-CP quy định giảm tiền thuê đất năm 2024

 Chính phủ ban hành Nghị định 87/2025/NĐ-CP ngày 11/4/2025 quy định việc giảm tiền thuê đất năm 2024. 

Đối tượng áp dụng

Nghị định quy định đối tượng áp dụng giảm tiền thuê đất năm 2024 gồm:

1- Người sử dụng đất theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định cho thuê đất hoặc Hợp đồng thuê đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đang có hiệu lực trong năm 2024 dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm. Trường hợp trong năm 2024, người sử dụng đất chưa hoàn thành thủ tục pháp lý về đất đai nhưng đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này đã hoàn thiện thủ tục pháp lý về đất đai (có Quyết định cho thuê đất hoặc Hợp đồng thuê đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dưới hình thức trả tiền thuê đất hằng năm) thì thuộc đối tượng được giảm tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này.

Quy định này áp dụng cho cả trường hợp người sử dụng đất không thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất hoặc hết thời hạn được miễn, giảm tiền thuê đất và trường hợp người sử dụng đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

2- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ giảm tiền thuê đất; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Mức giảm tiền thuê đất

Nghị định quy định giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2024 đối với người sử dụng đất thuộc đối tượng 1 ở trên.

Mức giảm tiền thuê đất quy định ở trên được tính trên số tiền thuê đất phải nộp của năm 2024 theo quy định của pháp luật. Không thực hiện giảm trên số tiền thuê đất còn nợ của các năm trước năm 2024 và tiền chậm nộp (nếu có). Trường hợp người sử dụng đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định hoặc/và khấu trừ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật về tiền thuê đất thì mức giảm tiền thuê đất quy định ở trên được tính trên số tiền thuê đất phải nộp (nếu có) sau khi đã được giảm hoặc/và khấu trừ theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất

Hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất gồm có Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất năm 2024 của người sử dụng đất theo Mẫu tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này (bản chính).

Người sử dụng đất chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của thông tin và đề nghị giảm tiền thuê đất của mình, đảm bảo đúng đối tượng được giảm tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này.

Trình tự, thủ tục giảm tiền thuê đất

Nghị định nêu rõ, người sử dụng đất nộp 01 Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất (bằng các phương thức: Gửi trực tiếp, gửi qua dịch vụ bưu chính, gửi qua phương thức điện tử hoặc gửi qua hình thức khác theo quy định của pháp luật về quản lý thuế) cho cơ quan thuế hoặc cơ quan khác theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về quản lý thuế kể từ ngày 11/4/2025 đến hết ngày 31/7/2025. Không áp dụng giảm tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này đối với trường hợp người sử dụng đất nộp Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất sau ngày 31/7/2025.

Căn cứ Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất do người sử dụng đất nộp theo quy định và Thông báo nộp tiền thuê đất năm 2024 của người sử dụng đất (nếu có); không quá 30 ngày kể từ ngày nhận Giấy đề nghị giảm tiền thuê đất, cơ quan có thẩm quyền xác định số tiền thuê đất được giảm và ban hành Quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định giảm tiền thuê đất theo quy định của Nghị định này nhưng sau đó cơ quan quản lý nhà nước phát hiện qua thanh tra, kiểm tra việc người sử dụng đất không thuộc trường hợp được giảm tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này thì người sử dụng đất phải hoàn trả ngân sách nhà nước số tiền thuê đất đã được giảm và tiền chậm nộp tính trên số tiền được giảm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Trường hợp người sử dụng đất đã nộp tiền thuê đất của năm 2024 mà sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định và quyết định giảm tiền thuê đất có phát sinh thừa tiền thuê đất thì được trừ số tiền đã nộp thừa vào tiền thuê đất của kỳ sau hoặc năm tiếp theo theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan; trường hợp không còn kỳ phải nộp tiền thuê đất tiếp theo thì thực hiện bù trừ hoặc hoàn trả số tiền nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/4/2025.

Bạn đang đọc bài viết Nghị định 87/2025/NĐ-CP quy định giảm tiền thuê đất năm 2024. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0922 281 189 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Hà Nội dự kiến nới điều kiện vay mua nhà ở xã hội
Trước thực trạng nhiều người thu nhập thấp vẫn khó tiếp cận vốn vay dù các gói tín dụng ưu đãi đã được triển khai, HĐND TP. Hà Nội vừa đề xuất nghiên cứu nới điều kiện vay vốn và rút ngắn thủ tục phát triển nhà ở xã hội.
Khởi công dự án đô thị sinh thái ven sông Noble Rivera
Ngày 1/8, Sunshine Group chính thức khởi công dự án đô thị sinh thái ven sông Noble Rivera. Sự kiện có sự tham dự của đại diện các sở, ban, ngành Thành phố; lãnh đạo xã Hát Môn, Phúc Thọ, Phúc Lộc, các nhà thầu, đối tác.

Tin mới

Chương trình tín dụng ưu tiên và kỳ vọng bứt tốc của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu toàn hệ thống ngân hàng thương mại triển khai chương trình tín dụng ưu đãi hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa và các động lực tăng trưởng kinh tế ngay trong tháng 8/2026, với lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Không né tránh, không đùn đẩy, tháo gỡ thực chất vướng mắc doanh nghiệp
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành xử lý đến cùng những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; vấn đề đã rõ phải trả lời rõ, nội dung cần hướng dẫn phải hướng dẫn cụ thể, những bất cập về cơ chế, chính sách cần nghiên cứu sửa đổi...