Giảm mặt bằng lãi suất, tiếp sức doanh nghiệp phục hồi sản xuất – kinh doanh
Trong thời gian ngắn, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp ban hành hai văn bản điều hành, trong khi các ngân hàng thương mại đồng loạt tung ra những gói tín dụng ưu đãi quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, còn chi phí vốn vẫn là bài toán được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Nền kinh tế đang ở nhịp tăng tốc. GDP quý 3/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%, và chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%, mức cao nhất của giai đoạn này kể từ năm 2019. Để duy trì đà đó, nguồn vốn với chi phí hợp lý là điều kiện cần. Dư nợ tín dụng toàn hệ thống đến 30/9 đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ.

Mặt bằng lãi suất cũng đã dịch chuyển: lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới đến 20/9 ở mức 6,38%/năm, cao hơn 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Theo NHNN, tốc độ tăng lãi suất đã chậm lại và mặt bằng đang xoay quanh một vùng mới.

Trong bối cảnh đó, chủ trương giảm lãi suất được triển khai theo từng lớp. Ngày 16/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay 1,5–2%, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Ngày 18/10, NHNN ban hành Văn bản 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất, hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh và tăng cường kiểm soát rủi ro.
Văn bản này yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, không chạy đua tăng lãi suất huy động và giảm 1,5–2%/năm lãi suất cho vay đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Sau cuộc làm việc của Thống đốc với lãnh đạo 46 ngân hàng ngày 19/10, NHNN ban hành tiếp Công văn 9736 ngày 21/10, yêu cầu giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch mới kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng cuối năm, so với mức của chính ngân hàng trong kỳ báo cáo 11–20/10.
Điểm đáng chú ý là cách thiết kế chính sách. Thống đốc nhấn mạnh việc giảm lãi suất không thực hiện theo hướng cào bằng mà phải xác định đúng đối tượng thụ hưởng, và cần xem xét áp dụng cho cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới.

Để tránh tình trạng giảm trên biểu lãi suất nhưng không thực chất, NHNN theo dõi số liệu bình quân của các giao dịch phát sinh mới qua hệ thống báo cáo thống kê, và ngân hàng không thực hiện có thể bị xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Cách làm này chuyển trọng tâm từ mức niêm yết sang chi phí vốn mà doanh nghiệp thực sự phải trả.
Phản ứng của thị trường khá nhanh. Sacombank triển khai gói 40.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp, giảm 2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay, cùng gói 20.000 tỷ đồng cho cá nhân và hộ kinh doanh. MSB có gói tới 10.000 tỷ đồng với lãi suất VND từ 7,5%/năm, VIB dành 15.000 tỷ đồng cho các lĩnh vực ưu tiên, còn VPBank dành 10.000 tỷ đồng giảm lãi suất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn lưu động.
Nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước cũng vào cuộc: tại cuộc họp ngày 19/10, BIDV cho biết triển khai gói khoảng 100.000 tỷ đồng, kỳ hạn đến 6 tháng, giảm lãi suất 1,5–2%, với mức lãi suất 6–7% tùy kỳ hạn. Ở chiều huy động, hiện đã có hàng chục ngân hàng thông báo giảm lãi suất, trong đó VPBank giảm thêm 0,4 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6–13 tháng từ ngày 26/10.

Theo thông tin, các chương trình tín dụng ưu đãi hiện hữu của Agribank có dư nợ khoảng 275.000 tỷ đồng, lãi suất bình quân khoảng 6,6%/năm, làm giảm thu nhập lãi khoảng 6.000 tỷ đồng; riêng gói của BIDV dự kiến giảm thu nhập khoảng 500 tỷ đồng. Những con số này cho thấy hệ thống ngân hàng đang dùng một phần lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng. Cùng lúc, NHNN yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ để giảm mặt bằng lãi suất, qua đó cho thấy hướng tới giảm thực chất qua tối ưu vận hành chứ không chỉ điều chỉnh biểu lãi.
Hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào cả hai phía. Giới chuyên gia lưu ý rằng hỗ trợ doanh nghiệp cần đi cùng an toàn hệ thống. Bên cạnh đó, ngân hàng cần giữ kỷ luật tín dụng, không hạ chuẩn thẩm định, không chạy theo tăng dư nợ, đồng thời kiểm soát rủi ro tập trung và mất cân đối kỳ hạn.
Về phía doanh nghiệp, chuyên gia nhận định nỗ lực của ngành ngân hàng cần được đáp lại bằng việc sử dụng vốn hiệu quả hơn, đồng thời cần huy động thêm nguồn lực qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu để chia sẻ gánh nặng cấp vốn cho nền kinh tế. Một số ý kiến doanh nghiệp và chuyên gia cũng cho rằng, ngoài mức lãi suất, khả năng tiếp cận vốn, tốc độ giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn mới là những yếu tố quyết định, nhất là khi chi phí đầu vào tăng và sức mua còn nhiều biến động.
Bên cạnh đó là những biến số vĩ mô cần theo dõi. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ, trong khi mục tiêu kiểm soát CPI bình quân cả năm khoảng 4,5% khiến dư địa còn lại cho các tháng cuối năm khá hẹp. Theo NHNN, xung đột tại Trung Đông đẩy giá dầu tăng, đồng USD mạnh lên trở lại và một số ngân hàng trung ương lớn như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đã tăng lãi suất, tạo áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi.
Về phía thị trường, có nhận định cho rằng việc duy trì được mặt bằng lãi suất hiện nay đã là kịch bản tích cực và khó có khả năng lãi suất quay lại vùng thấp như 2–3 năm trước; đồng thời chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động có thể thay đổi trong các quý còn lại. Đây là những yếu tố sẽ quyết định độ bền của đà giảm lãi suất.
Có thể thấy, chủ trương giảm mặt bằng lãi suất lần này có mục tiêu rõ ràng: hướng vốn vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, theo dõi bằng số liệu thực chất, đồng thời giữ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống. Kết quả cuối cùng sẽ được đo bằng chi phí vốn doanh nghiệp thực trả, tốc độ giải ngân và chất lượng tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm.
Hoàng Nguyễn
