Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phát tín hiệu giảm lãi suất cho vay
Sau cuộc họp ngày 19/10 và hai văn bản điều hành liên tiếp, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giảm lãi suất thực chất. Làn sóng điều chỉnh đã lan nhanh ở chiều huy động, trong khi ưu đãi lãi vay được triển khai có chọn lọc theo nhóm khách hàng và lĩnh vực.
Theo đó, ngày 21/10, NHNN ban hành thêm Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong các tháng cuối năm 2026, so với mức lãi suất của chính ngân hàng đó tại kỳ báo cáo từ 11/10 đến 20/10/2026. Như vậy, mốc so sánh được đặt ở lãi suất thực tế phát sinh, không chỉ ở biểu lãi suất niêm yết.

Yêu cầu giảm lãi suất đi kèm công cụ giám sát và xử lý. Tổ chức tín dụng không tuân thủ có thể bị xem xét lại hạn mức tín dụng còn lại của năm nay, bị giao chỉ tiêu thấp hơn vào năm tới hoặc phải áp dụng một số tỷ lệ an toàn cao hơn quy định. Song song, NHNN yêu cầu kiểm soát chặt hoạt động cấp tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, khách hàng có dư nợ lớn và nhóm khách hàng liên quan; thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng và kiểm soát các khoản lãi dự thu. Định hướng giảm lãi suất vì thế được đặt trong yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.
Khảo sát biểu lãi suất niêm yết của gần 50 ngân hàng chiều 21/10 cho thấy, có ít nhất 24 ngân hàng giảm lãi suất kỳ hạn 12 tháng so với trước cuộc họp, mức giảm phổ biến là 0,5 điểm phần trăm. KienlongBank điều chỉnh mạnh nhất, giảm 0,9 điểm phần trăm xuống 5%/năm; BVBank giảm 0,6 điểm phần trăm, còn 6,05%/năm; Techcombank giảm 0,3 điểm phần trăm, về 5,85%/năm. Ở nhóm kỳ hạn dưới 6 tháng, các điều chỉnh thưa thớt hơn, do phần lớn ngân hàng giữ nguyên mức lãi suất đang chịu trần 4,75%/năm.
Về mặt bằng chung, theo số liệu NHNN công bố đầu tháng 10, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, cao hơn 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Đây là điểm xuất phát của đợt điều chỉnh hiện nay.
Ở chiều cho vay, nhiều ngân hàng đã công bố chương trình ưu đãi ngay sau chỉ đạo. Điểm chung của các gói là mức giảm 1,5–2 điểm phần trăm, áp dụng cho khách hàng sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, với quy mô được giới hạn theo từng ngân hàng.

Theo ước tính của Công ty Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS), nếu phần dư nợ được giảm lãi suất 1,5–2%/năm chiếm khoảng 3–5% tổng danh mục cho vay, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03–0,07 điểm phần trăm, kéo lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2–4%. Việc giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động niêm yết có thể bù đắp một phần tác động này. Riêng BIDV cho biết dự kiến giảm khoảng 500 tỷ đồng thu nhập để triển khai chương trình của mình.
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, mặt bằng lãi suất cao kéo dài sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và gây khó cho mục tiêu tăng trưởng hai con số; đồng thời ông đề nghị hạ lãi suất từng bước để tránh ảnh hưởng đến thanh khoản và hạn chế khả năng người dân chuyển tiền gửi sang các kênh khác. Bên cạnh đó, mục tiêu không phải là kéo lãi suất xuống bằng mọi giá, mà là duy trì mặt bằng đủ cao để ổn định và đủ thấp để hỗ trợ tăng trưởng; theo ông, cuộc đua lãi suất huy động có thể đẩy chi phí vốn của ngân hàng lên cao.
Về phía ngân hàng, đại diện ngân hàng Vietcombank cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay là giảm được lãi suất đầu vào nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền, qua đó mới có cơ sở để lãi suất đầu ra hợp lý hơn đối với nền kinh tế.
Trong những tháng cuối năm 2026, NHNN sẽ theo dõi số liệu lãi suất bình quân của các giao dịch phát sinh mới tại từng ngân hàng thương mại. Mức độ chuyển hóa từ giảm lãi suất huy động sang giảm lãi suất cho vay thực chất, cùng khả năng giữ ổn định vĩ mô, là những nội dung cần tiếp tục theo dõi. Các số liệu nêu trên mang tính thời điểm và có thể thay đổi khi ngân hàng cập nhật biểu lãi suất.
Hoàng Nguyễn
