Ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay
Yêu cầu giảm 1,5–2%/năm lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh đặt hệ thống ngân hàng trước bài toán cân đối giữa hỗ trợ doanh nghiệp và duy trì khả năng sinh lời. Mức độ tác động chưa đồng đều giữa các ngân hàng, và còn phụ thuộc vào cơ cấu dư nợ, chi phí vốn cùng khả năng tiết giảm chi phí vận hành
Theo Văn bản 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất từ 1,5% đến 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Hai mức giảm này không bằng nhau.

Mức giảm lãi suất cho vay theo yêu cầu lớn hơn đáng kể so với mức giảm tối thiểu đối với lãi suất huy động, và đây là yếu tố trực tiếp tạo sức ép lên biên lãi ròng (NIM). Đến nay, hầu hết ngân hàng đã công bố giảm lãi suất huy động, phổ biến ở mức 0,5%/năm với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, còn lãi suất cho vay được công bố giảm 1,5–2%, có nơi tới 3%/năm.
Về mặt định lượng, tác động phụ thuộc vào tỷ trọng dư nợ thuộc diện giảm lãi suất. Theo ước tính theo kịch bản giả định của Công ty Chứng khoán TCBS, nếu dư nợ được giảm lãi suất 1,5–2%/năm chiếm 3–5% tổng danh mục cho vay, NIM có thể giảm khoảng 0,03–0,07 điểm phần trăm, trong khi lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2–4%.
Đây là con số tham chiếu, mức tác động thực tế còn tùy cơ cấu tín dụng và chi phí vốn của từng ngân hàng. Bối cảnh đầu vào cũng đáng lưu ý: chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động của nhiều ngân hàng đang dao động trong khoảng 2,5–3 điểm phần trăm.
Nhóm ngân hàng có tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh cao như VietinBank (66%), MB (57%), Vietcombank (56%) và BIDV (51%) về lý thuyết chịu ảnh hưởng lớn hơn. Với nhóm quốc doanh, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định các ngân hàng này có thể chịu sức ép lớn hơn khi vừa dẫn dắt chủ trương giảm lãi suất, vừa có mặt bằng lãi suất cho vay tương đối cạnh tranh nên dư địa điều chỉnh thêm bị hạn chế.
Ngược lại, các nhà băng lớn có lợi thế tiền gửi không kỳ hạn (CASA) dồi dào sẽ ít bị bào mòn lợi nhuận hơn, còn nhóm quy mô nhỏ tập trung vào bán lẻ hoặc bất động sản đối mặt áp lực NIM nặng hơn khi chi phí vốn bị đẩy lên.

VDSC lưu ý việc giảm lãi suất huy động niêm yết không đồng nghĩa chi phí vốn thực tế của ngân hàng giảm tương ứng, và nhận định một số ngân hàng có thể phải giảm tốc giải ngân hoặc thu hẹp nghiệp vụ mua hẳn L/C trong quý IV/2026.
Một số chương trình đã được lượng hóa chi phí: tại cuộc họp ngày 19/10, Agribank cho biết các chương trình tín dụng ưu đãi hiện hữu có dư nợ khoảng 275.000 tỷ đồng, lãi suất bình quân khoảng 6,6%/năm, làm giảm thu nhập lãi khoảng 6.000 tỷ đồng; BIDV dự kiến giảm thu nhập khoảng 500 tỷ đồng với gói của mình.
Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán MB (MBS), tổng lợi nhuận sau thuế quý 3/2026 của các ngân hàng trong danh mục theo dõi tăng 19,1% so với cùng kỳ, tín dụng toàn ngành 9 tháng ước tăng khoảng 12% so với đầu năm.
Theo dự báo của Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), tổng lợi nhuận sau thuế quý 3 của nhóm theo dõi đạt 67.699 tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ nhưng giảm 9,5% so với quý liền trước; cả năm 2026 dự báo đạt 281.356 tỷ đồng, tăng 21,5% so với năm 2025.
Trong số các ngân hàng đã công bố, LPBank báo lợi nhuận trước thuế quý 3 đạt 4.448 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ, lũy kế 9 tháng đạt 10.421 tỷ đồng, hoàn thành 70% kế hoạch năm. Nói cách khác, chủ trương giảm lãi suất được triển khai khi kết quả kinh doanh 9 tháng của khối ngân hàng nhìn chung đã ở mức cao.
Triển vọng các kỳ tới được các đơn vị phân tích đánh giá thận trọng hơn. Theo SSI Research, NIM giảm trong quý 1/2026 do chi phí vốn tăng mạnh, phục hồi lên 3,22% trong quý 2, nhưng có thể chỉ là nhịp hồi phục trong xu hướng giảm. Tổ chức này dự báo NIM toàn ngành giảm nhẹ 2 điểm cơ bản xuống 3,11% trong năm 2027, trong đó nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tăng 2 điểm cơ bản, còn nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm 8 điểm cơ bản.

Về lợi nhuận, SSI Research dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng đạt 15,4% trong năm 2027, thấp hơn mức dự báo 19,5% của năm 2026, phản ánh sức ép từ NIM thu hẹp và chi phí dự phòng gia tăng.
Theo Chứng khoán Thiên Việt (TVS), tăng trưởng tín dụng vẫn là động lực của kết quả kinh doanh năm 2026, nhưng chi phí vốn tăng, NIM khó cải thiện và rủi ro nợ xấu có thể khiến lợi nhuận ngành giảm tốc từ năm 2027. Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu ngân hàng đồng loạt chịu áp lực bán sau yêu cầu giảm lãi suất cho vay.

Bên cạnh các yếu tố gây sức ép, cũng có những điểm tựa được ghi nhận. Một phân tích cho rằng tăng trưởng tín dụng, cơ cấu kỳ hạn cho vay và nguồn thu ngoài lãi vẫn tạo điểm tựa cho lợi nhuận ngân hàng, và Thông tư 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn dùng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, tạo thêm dư địa cho việc quản lý cơ cấu vốn.
Ở chiều dài hạn, nếu giảm lãi suất giúp doanh nghiệp phục hồi, dòng tiền cải thiện và khả năng trả nợ tốt hơn, chất lượng tài sản của ngân hàng có thể được cải thiện. Theo cách nhìn này, chi phí chia sẻ hôm nay có thể được bù đắp một phần bằng chất lượng tín dụng tốt hơn trong các kỳ sau, dù mức độ bù đắp cần được theo dõi qua số liệu thực tế.
Nhiều chuyên gia tài chính nhận định, bài toán lợi nhuận của ngân hàng trong giai đoạn này là bài toán phân hóa. Tác động tới từng ngân hàng sẽ được thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như NIM, chi phí dự phòng, tỷ lệ CASA và tốc độ giải ngân trong quý 4/2026 và các kỳ báo cáo tới. Việc ngân hàng cân đối chi phí, chia sẻ lợi nhuận cùng doanh nghiệp, trong khi vẫn bảo đảm an toàn hệ thống, vẫn là điều kiện để chủ trương giảm lãi suất phát huy hiệu quả bền vững.
Hoàng Nguyễn
