0922 281 189 [email protected]
Thứ ba, 06/01/2026 06:51 (GMT+7)

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025

Theo dõi KT&TD trên

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính vừa công bố.

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tính tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025[1], duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%).

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,70%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,80%; khu vực dịch vụ tăng 8,82%, đóng góp 49,07%.

Về sử dụng GDP quý IV/2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,34%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,40%.

GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[2]

Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. 

Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 ước tăng 3,48% so với năm trước, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,70% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay[3]

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,80% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. 

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2019-2025[4], tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế, đóng góp 31,49%. 

Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,60%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,39%, đóng góp 2,94%. 

Ngành khai khoáng tăng 0,42%, đóng góp 0,13%. Ngành xây dựng tăng 9,62%, đóng góp 8,47%.

Các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. 

Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 10,66% của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[5]

Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).

Về sử dụng GDP năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024; tích lũy tài sản tăng 8,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD[6], tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024), tăng trưởng kinh tế đạt khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2025 ghi nhận kết quả tích cực với sự chủ động phòng chống, ứng phó và hỗ trợ kịp thời của các cấp, các ngành, các địa phương trước ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ và dịch tả lợn châu Phi bùng phát trên diện rộng. 

Diện tích lúa cả năm 2025 ước đạt 7,13 triệu ha, giảm 1,1 nghìn ha so với năm 2024; năng suất lúa ước đạt 61,1 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,5 triệu tấn, tăng 88,6 nghìn tấn. 

Sản lượng lương thực có hạt năm 2025 đạt 47,9 triệu tấn, tăng 96,4 nghìn tấn so với năm 2024, trong đó sản lượng ngô đạt 4,4 triệu tấn, tăng 7,8 nghìn tấn.

– Lúa đông xuân: Cả nước gieo trồng được gần 3,0 triệu ha, tăng 15,7 nghìn ha so với năm 2024; năng suất lúa đạt 68,6 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha; sản lượng đạt 20,4 triệu tấn, tăng 32,1 nghìn tấn.

– Lúa hè thu: Diện tích gieo trồng lúa hè thu cả nước đạt gần 1,9 triệu ha, giảm 10,8 nghìn ha so với năm 2024; năng suất lúa ước đạt 57,4 tạ/ha, giảm 1,0 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 10,9 triệu tấn, giảm 269,1 nghìn tấn.

– Lúa thu đông: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Tây Ninh gieo trồng 716,6 nghìn ha lúa thu đông, giảm 1,3 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước; năng suất ước đạt 58,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng ước đạt 4,21 triệu tấn, tăng 12,5 nghìn tấn.

– Lúa mùa: Diện tích gieo trồng lúa mùa cả nước ước đạt 1,5 triệu ha, giảm 4,6 nghìn ha so với năm 2024; năng suất ước đạt 52,4 tạ/ha, tăng 2,2 tạ/ha; sản lượng ước đạt 8,07 triệu tấn, tăng 314,8 nghìn tấn.

– Cây hằng năm: Diện tích gieo trồng một số cây hoa màu như ngô, khoai lang, lạc, đậu tương giảm so với năm trước do hiệu quả kinh tế không cao, nông dân thu hẹp sản xuất để tập trung trồng rau hoặc chuyển sang trồng cây ăn quả, cây làm thức ăn chăn nuôi, thực hiện kinh tế nông nghiệp tuần hoàn.

– Cây lâu năm: Sản xuất cây lâu năm năm 2025 đạt khá so với năm trước, trong đó: Nhóm cây công nghiệp lâu năm đạt 2.195,8 nghìn ha, tăng 0,5%; nhóm cây ăn quả đạt 1.311,3 nghìn ha, tăng 0,4%.

– Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò trên cả nước tiếp tục xu hướng giảm. Chăn nuôi lợn trong 6 tháng đầu năm tương đối thuận lợi nhưng từ quý III/2025 dịch tả lợn châu Phi bùng phát làm tổng đàn giảm mạnh. Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định và mở rộng đầu tư, một số địa phương có tổng đàn lợn tăng góp phần bù đắp một phần sụt giảm. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong quý IV/2025 ước đạt 103,5 nghìn ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 129,3 ha, giảm 28,8%. Tính chung năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 323,3 nghìn ha, tăng 6,4% so với năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.127,6 ha, giảm 30,7%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý IV/2025 ước đạt 2.689,1 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 9.947,5 nghìn tấn, tăng 3,0% so với năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 6.116,8 nghìn tấn, tăng 5,1%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 3.830,7 nghìn tấn, giảm 0,2%.

3. Sản xuất công nghiệp

– Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%. Tính chung năm 2025, chỉ số IIP ước tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,2%). 

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%, đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% và ngành khai khoáng tăng 0,5%, cùng đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

– Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười Hai giảm 0,4% so với tháng trướcvà tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm 2024 (năm trước tăng 11,4%).

– Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2025 tăng 6,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm 2024 là 77,1%).

– Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2025 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

– Trong tháng Mười Hai, cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng Mười Một và tăng 71,6% so với cùng kỳ năm trước; gần 10,0 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,0% và tăng 12,7%; 4.594 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 5,5% và tăng 9,7%; 12.608 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 89,1% và giảm 36,6%; 5.045 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,4% và tăng 115,1%.

– Tính chung năm 2025, cả nước có gần 297,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm trước; bình quân một tháng có 24,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. 

Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 227,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,8% so với năm 2024; bình quân một tháng có 18,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. 

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 là gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Đánh giá về hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp quý IV/2025 so với quý III/2025, có 75,8% số doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD trong quý này tốt hơn và giữ ổn định so với quý trước (25,4% tốt hơn và 50,4% giữ ổn định); 24,2% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. So với quý III/2025 tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá thuận lợi hơn quý trước tăng 1,1%; giữ ổn định giảm 0,2% và khó khăn hơn giảm 0,9%.

5. Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo

– Đóng góp của hoạt động khoa học và công nghệ trong GDPƯớc tính trong năm 2025, các hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN)[7] đóng góp trực tiếp trong GDP khoảng 1,68%; bên cạnh đó hoạt động KHCN còn tác động lan tỏa đến các hoạt động kinh tế khác với đóng góp gián tiếp khoảng 0,81%. 

Do đó, tổng tác động trực tiếp và gián tiếp của hoạt động khoa học công nghệ chiếm khoảng 2,5% trong GDP (tương đương 320,4 nghìn tỷ đồng), tăng 16,3% so với năm 2024 và tăng khoảng 51% so với năm 2020).

– Về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), theo Báo cáo GII 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, giữ nguyên thứ hạng như năm 2024. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam vượt Thái Lan, đứng thứ 3, sau Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a.

– Về đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp hạng thứ 55/100 toàn cầu. Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt 34,6%, giảm 4,2 điểm phần trăm so với năm 2024.

– Về sở hữu trí tuệ, năm 2025[8], Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận 183.700 đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tăng 20,4% so với năm 2024; đã xử lý 249.854 đơn đăng ký quyền SHCN, tăng 74,4% so với năm 2024; đã cấp 83.000 văn bằng bảo hộ SHCN, tăng 54,6% so với năm 2024.

– Về dịch vụ công trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia, tính đến ngày 30/12/2025, số hồ sơ trực tuyến thực hiện qua cổng dịch vụ công quốc gia là hơn 94.334 nghìn hồ sơ; gần 636.949,8 nghìn hồ sơ đồng bộ trạng thái lên cổng dịch vụ công quốc gia.

– Về năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ hạt nhân, năm 2025 đã cấp 1.333 giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giảm 9,3% so với năm 2024; cấp 38 giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ năng lượng nguyên tử, tăng 65,2%; cấp 1.000 Chứng chỉ nhân viên bức xạ, chứng chỉ hành nghề, giảm 2,0%; ký 25 quyết định phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố, tăng 4,2%.

6. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Mười Hai năm 2025 ước đạt 627,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 1.833,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so với quý trước và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. 

Tính chung năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm trước (năm 2024 tăng 8,9%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024).

Vận tải hành khách quý IV/2025 ước đạt 1.669,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 78,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%. 

Tính chung năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 6.183,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,2% so với năm trước và luân chuyển đạt 312,0 tỷ lượt khách.km, tăng 13,6%. 

Vận tải hàng hóa quý IV/2025 ước đạt 799,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 160,2 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. Tính chung năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 3.027,7 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,1% so với năm trước và luân chuyển 612,3 tỷ tấn.km, tăng 13,1%.

­­­­Doanh thu hoạt động viễn thông quý IV/2025 ước đạt 96,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, d­­oanh thu hoạt động viễn thông ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0% so với năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,8%).

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Mười Hai đạt hơn 2 triệu lượt người, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt người, tăng 20,4% so với năm trước; số lượt người Việt Nam xuất cảnh là 6,7 triệu lượt người, tăng 26,4%.

7Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

– Tính đến thời điểm 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,65% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%).

– Doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm quý IV/2025 ước tính tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm ước đạt 237,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm trước.

– Tính đến ngày 31/12/2025, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 29.328,2 tỷ đồng/phiên, tăng 39,1% so với bình quân năm 2024; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 15.300 tỷ đồng/phiên, tăng 26,1%; khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh bình quân đạt 243.418 hợp đồng/phiên, tăng 15,2%.

8. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý IV/2025 theo giá hiện hành ước đạt 1.445,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm trước.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2025 có 173 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,0 tỷ USD, tăng 65,9% so với năm trước; có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh 360,8 triệu USD, gấp hơn 3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1.362 triệu USD, tăng 88,7% so với năm trước.

9. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Mười Hai ước đạt 244,2 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Mười Hai ước đạt 350,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước.

10. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ[9]

a) Xuất nhập khẩu hàng hóa[10]

– Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ năm trước. 

Trong quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20,0% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,7% so với quý III/2025. 

Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước. 

Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2025, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 421,47 tỷ USD, chiếm 88,7%.

– Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Hai đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng trước và tăng 27,7% so với cùng kỳ năm trước. 

Trong quý IV/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,9% so với quý III/2025. 

Tính chung cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu năm 2025, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,11 tỷ USD, chiếm 93,6%.

– Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 153,2 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 186,0 tỷ USD.

– Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười Hai nhập siêu 0,66 tỷ USD. Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD (năm trước xuất siêu 24,94 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý IV/2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,26 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 9,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 10,55 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,1% so với quý trước.

Tính chung cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 30,31 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 ước đạt 40,54 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỷ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỷ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỷ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6%.

Cán cân thương mại dịch vụ năm 2025 nhập siêu 10,23 tỷ USD.

11. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

a) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Hai tăng 0,19% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Mười Hai tăng 3,48%. CPI bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với quý IV/2024. Tính chung cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

– Chỉ số giá vàng tháng Mười Hai tăng 2,18% so với tháng trước; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.

– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười Hai tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.

b) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quý IV và năm 2025 đều tăng so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,01% so với năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 2,55%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 5,09%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,36%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 3,62%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 1,10%.

12. Một số tình hình xã hội

a) Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2025 ước tính là 102,3 triệu người, tăng 1.001,6 nghìn người, tương đương tăng 0,99% so với năm 2024. 

Chất lượng dân số tiếp tục được cải thiện, mức sinh duy trì mức sinh thay thế, tỷ lệ tử vong ở mức thấp và tuổi thọ trung bình tăng nhờ các thành tựu phát triển của y học và công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân được cải thiện.

Tình hình lao động, việc làm quý IV/2025 có nhiều dấu hiệu khởi sắc, lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động đều tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2025 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 488,7 nghìn người so với quý trước và tăng 690,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước.

Lao động có việc làm quý IV/2025 ước tính là 52,7 triệu người, tăng 477,5 nghìn người so với quý trước và tăng 656,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,1%) so với năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV/2025 là 1,67%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. 

Tính chung năm 2025, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, giảm 0,20 điểm phần trăm so với năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,25%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,93%.

Thu nhập bình quân của lao động quý IV/2025 là 8,7 triệu đồng/tháng, tăng 323 nghìn đồng so với quý III/2025 và tăng 508 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. 

Tính chung năm 2025, thu nhập bình quân của lao động là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng so với năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2025 là 2,22%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và không đổi so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,51%; khu vực nông thôn là 2,02%.

b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Năm 2025, tình hình thu nhập và đời sống của hộ dân cư được cải thiện. Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện. 

Theo kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2025 đạt khoảng 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2025 khoảng 1,3%, giảm 1,0 điểm phần trăm so với năm 2024.

Công tác an sinh xã hội được các cấp từ trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực. 

Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/12/2025), tổng hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng là gần 50,3 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 là hơn 34,2 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không thuộc Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là gần 4,7 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 3,2 nghìn tỷ đồng. Có gần 29,3 triệu thẻ bảo hiểm y tế/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.

Tính đến hết ngày 29/12/2025, để khắc phục hậu quả thiên tai do mưa bão, Chính phủ đã hỗ trợ khoảng 3,9 nghìn tấn gạo cho người dân. 

Trong năm 2025, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân gần 42,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ 6,0 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 402,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 4,3 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 284,5 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 31,8 nghìn tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho khoảng hơn 2,1 triệu nhân khẩu.

Theo số liệu báo cáo từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo, chương trình “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” đã cơ bản hoàn thành mục tiêu vào thời điểm cuối tháng Tám, về đích sớm hơn 5 năm 4 tháng so với mục tiêu tại Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Chương trình đã hỗ trợ xây mới, sửa chữa 334.234 căn (trong đó, xây mới 255.310 căn, sửa chữa 78.924 căn).

c) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2025, cả nước có 181,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong); 96,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (02 trường hợp tử vong); 374 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 117,6 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi (11 trường hợp tử vong); 104 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (01 trường hợp tử vong); 73 người tử vong do bệnh dại.

Năm 2025 (từ ngày 19/12/2024 đến ngày 18/12/2025), cả nước xảy ra 70 vụ với 1.558 người bị ngộ độc (17 trường hợp tử vong).

d) Giáo dục và đào tạo

Năm 2025, Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông lần đầu áp dụng phương án 2+2 và tổ chức đồng thời theo 2 quy chế, 2 chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2018, với điểm mới là công bố phổ điểm trước khi thí sinh biết điểm. 

Cả nước có trên 1,1 triệu thí sinh dự thi, tăng gần 100 nghìn thí sinh so với năm 2024; tỷ lệ tốt nghiệp đạt 99,25% (năm 2024 tỷ lệ này là 99,40%).

Năm học 2025-2026, khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên và 1,6 triệu giáo viên cả nước tham dự lễ khai giảng được tổ chức trực tiếp tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia và kết nối trực tuyến tới khoảng 52.000 cơ sở giáo dục – đào tạo trên cả nước. 

Lần đầu tiên nghi thức chào cờ, hát Quốc ca diễn ra đồng thời trên toàn quốc, tạo dấu ấn lịch sử và khơi dậy niềm tự hào, khí thế cho năm học mới.

đ) Hoạt động văn hóa, thể thao

Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt về văn hóa với nhiều hoạt động kỷ niệm cấp quốc gia, lễ hội và sự kiện lớn, tiêu biểu là chuỗi hoạt động kỷ niệm 50 năm Thống nhất đất nước, 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 và Triển lãm “80 năm Hành trình Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. 

Đáng chú ý, Việt Nam có 04 di sản, tư liệu và loại hình văn hóa lần đầu tiên được UNESCO ghi danh, khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử của đất nước trên trường quốc tế.

Năm 2025, Thể thao Việt Nam giành 2.253 huy chương quốc tế, gồm 80 huy chương vàng thế giới, 161 huy chương vàng châu Á và 616 huy chương vàng khu vực Đông Nam Á, cho thấy sự phát triển khá toàn diện của thể thao thành tích cao. Kết quả này đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng huấn luyện, nhất là ở các môn Olympic và ASIAD.

e) Tai nạn giao thông

Trong năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 18.371 vụ tai nạn giao thông, làm 10.337 người chết và 12.197 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong năm 2025, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, làm 28 người chết và 33 người bị thương.

g) Thiệt hại do thiên tai

Trong năm 2025, thiên tai làm 489 người chết và mất tích; 800 người bị thương; 386,6 nghìn ha lúa và 174,0 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 7,5 triệu con gia súc và gia cầm bị chết; 340,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong năm 2025 ước tính gần 102.665,3 tỷ đồng, tăng 15,0% so với năm 2024.

h) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong năm 2025, các cơ quan chức năng phát hiện 16.280 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 14.302 vụ với tổng số tiền phạt gần 240,8 tỷ đồng, giảm 23,7% so với năm trước; trên địa bàn cả nước xảy ra 3.182 vụ cháy, nổ, làm 108 người chết và 135 người bị thương, thiệt hại ước tính 548,5 tỷ đồng, tăng 13,1%./.

[1] Tốc độ tăng GDP quý IV các năm 2011-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 7,05%; 5,99%; 6,38%; 7,29%; 7,38%; 7,49%; 8,18%; 7,78%; 7,52%; 4,69%; 5,23%; 6,26%; 6,76%, 7,51% và 8,46%.

[2] Tốc độ tăng GDP các năm 2011-2025 lần lượt là: 6,41%; 5,50%; 5,55%; 6,42%; 6,99%; 6,69%; 6,94%; 7,47%; 7,36%; 2,87%; 2,55%; 8,54%; 4,98%; 7,04% và 8,02%

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp các năm 2019-2025 so với năm trước lần lượt là: 8,14%; 3,77%; 4,06%; 8,52%; 2,88%; 8,12% và 8,80%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các năm 2019-2025 so với năm trước lần lượt là: 9,59%; 4,99%; 5,37%; 8,99%; 3,54%; 9,59% và 9,97%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ các năm 2011-2025 so với năm trước lần lượt là: 7,65%; 7,03%; 6,82%; 7,31%; 7,05%; 7,46%; 7,12%; 7,46%; 8,08%; 2,01%; 1,75%; 10,66%; 6,81%; 7,36% và 8,62%.

[6] Tỷ giá trung tâm VND/USD bình quân năm 2025 là 24.976,91 đồng.

[7] Bao gồm: Hoạt động kiến trúc, kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Quảng cáo và nghiên cứu thị trường; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ khác.

[8] Số liệu tính đến 17h ngày 25/12/2025.

[9] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).

[10] Số liệu sơ bộ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Mười Hai do Cục Hải quan cung cấp ngày 03/01/2026.

Bạn đang đọc bài viết Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0922 281 189 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Bắt đầu Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên toàn quốc
Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Bộ Tài chính chủ trì triển khai trê phạm vi toàn quốc. Mục đích nhằm thu thập thông tin về các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ việc đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
Đánh cồng khai trương phiên giao dịch chứng khoán đầu năm 2026
Sáng nay (5/1), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội tổ chức Lễ đánh cồng khai trương phiên giao dịch chứng khoán đầu năm 2026. Sự kiện được xem là thông điệp về quyết tâm của thị trường chứng khoán Việt Nam khi cùng cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng đến tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định.
Kịch bản đột phá cho nền kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Nền kinh tế bước vào năm 2026 - năm mở đầu giai đoạn tăng trưởng cao với nền tảng khá tốt. Việt Nam được đánh giá là một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á, mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn.

Tin mới

Xử phạt vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK đối với Tổng Công ty CN dầu thực vật Việt Nam
Ngày 07/01/2026, Thanh tra Chứng khoán Nhà nước ban hành Quyết định số 20/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với Tổng Công ty công nghiệp dầu thực vật Việt Nam - Công ty cổ phần, cụ thể như sau:
Bài toán khó khi người trẻ mua nhà
Khoảng cách giữa giá nhà và thu nhập ngày càng nới rộng khiến khả năng sở hữu nhà ở của người trẻ đang đối mặt nhiều rào cản. Không chỉ ảnh hưởng đến quyết định an cư, điều này còn đặt ra những vấn đề dài hạn cho thị trường nhà ở và ổn định xã hội.
Thu giữ trên 800 lít rượu hương cốm không rõ nguồn gốc, xuất xứ tại Lào Cai
Đội QLTT số 9 phối hợp với Công an xã Hợp Thành (Lào Cai) kiểm tra đột xuất một cơ sở kinh doanh rượu tại thôn Thành Châu, xã Hợp Thành, phát hiện 880 lít rượu hương cốm không rõ nguồn gốc, không có giấy phép kinh doanh và hóa đơn, chứng từ hợp pháp, với tổng giá trị hàng hóa vi phạm 26,4 triệu đồng
Bắt đầu Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên toàn quốc
Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Bộ Tài chính chủ trì triển khai trê phạm vi toàn quốc. Mục đích nhằm thu thập thông tin về các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ việc đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;