Quy định chi tiết về triển khai “hộ chiếu số” cho sản phẩm, hàng hóa
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và triển khai “hộ chiếu số”.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và triển khai “hộ chiếu số” cho sản phẩm, hàng hóa.
Theo Nghị định, Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ việc xây dựng và ứng dụng các nền tảng công nghệ để thu thập, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu về chất lượng sản phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Các tổ chức, cá nhân sản xuất - kinh doanh được khuyến khích sử dụng mã số, mã vạch một chiều, hai chiều như mã QR, Datamatrix, cùng các công nghệ nhận dạng hiện đại như RFID, NFC. Đáng chú ý, Nghị định ưu tiên kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và các công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao ban hành hướng dẫn cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bảo đảm việc thu thập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cá nhân phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số và hội nhập quốc tế.

Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu quốc gia
Một nội dung quan trọng khác của Nghị định là việc chuẩn hóa và mở rộng ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất – kinh doanh được quyền lựa chọn áp dụng mã số, mã vạch trên các nền tảng công nghệ như Blockchain, IoT, AI và các công nghệ phù hợp khác. Khi đã triển khai, việc ứng dụng phải tuân thủ đầy đủ các quy định liên quan tại Nghị định.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc do tổ chức, cá nhân sử dụng phải bảo đảm khả năng truy xuất đầy đủ theo tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế, khu vực hoặc tiêu chuẩn cơ sở đã được công bố hợp chuẩn. Trường hợp đã có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tổ chức, cá nhân phải thực hiện công bố hợp quy theo quy định pháp luật.
Dữ liệu truy xuất nguồn gốc được yêu cầu khá chi tiết, bao gồm: tên sản phẩm, hình ảnh, tên và địa chỉ đơn vị sản xuất - kinh doanh, xuất xứ, thương hiệu, số lô hoặc số sê-ri, hạn sử dụng (nếu có). Những thông tin này không chỉ phục vụ người tiêu dùng mà còn là cơ sở quan trọng cho cơ quan quản lý trong công tác hậu kiểm, cảnh báo rủi ro và xử lý vi phạm.
Về quản lý nhà nước, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối trong hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Bộ có trách nhiệm xây dựng và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn nâng cao năng lực kỹ thuật; vận hành và nâng cấp Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia; quản lý sử dụng các loại mã truy vết và vật mang dữ liệu.
Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực phối hợp triển khai truy xuất nguồn gốc trong phạm vi chức năng, bảo đảm kết nối dữ liệu với Cổng thông tin quốc gia, đồng thời thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra truy xuất nguồn gốc tại địa phương. Đáng chú ý, Bộ Công an được giao chủ trì xây dựng, vận hành và nâng cấp nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn dữ liệu và đúng thẩm quyền quản lý.
Triển khai hộ chiếu số và nhãn điện tử cho sản phẩm
Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị định 37/2026/NĐ-CP là quy định về “hộ chiếu số của sản phẩm” và nhãn điện tử hàng hóa. Theo đó, hộ chiếu số là bộ dữ liệu điện tử gắn với mã định danh duy nhất của sản phẩm, chứa các thông tin cốt lõi phục vụ quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Nội dung tối thiểu của hộ chiếu số bao gồm: tên sản phẩm và mã GTIN; thông tin về tổ chức, cá nhân sản xuất - kinh doanh; xuất xứ hoặc nơi hoàn thiện cuối cùng; dữ liệu truy xuất nguồn gốc; các chứng nhận chất lượng (nếu có); ngày sản xuất, hạn sử dụng; cảnh báo an toàn và các thông tin quản lý khác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước.
Hộ chiếu số phải được thiết lập dưới dạng dữ liệu điện tử, thông tin kê khai trung thực, đầy đủ và được cập nhật kịp thời; đồng thời bảo đảm khả năng kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia. Nghị định cho phép doanh nghiệp sử dụng hộ chiếu số thay thế cho nhãn điện tử trong trường hợp hộ chiếu đã đáp ứng đầy đủ các nội dung ghi nhãn bắt buộc.
Căn cứ yêu cầu quản lý và thông lệ quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì xây dựng lộ trình áp dụng hộ chiếu số đối với từng nhóm sản phẩm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp được khuyến khích tự nguyện áp dụng, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ cho quản lý chất lượng.
P.T
