Cục Thuế chỉ đạo công khai thông tin người nộp thuế trạng thái 03-06
Cục Thuế ban hành Công văn số 5322/CT-PC chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành Thuế về việc chỉ đạo công khai thông tin người nộp thuế (NNT) trạng thái 03-06.

Theo nội dung văn bản 5322/CT-PC, để triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” được ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-CT ngày 08/5/2026 của Cục Thuế hướng dẫn toàn ngành triển khai đồng bộ và thống nhất công tác (i) Rà soát các trường hợp cần công khai thông tin, đảm bảo đúng đối tượng theo quy định của Luật Quản lý thuế; (ii) Ban hành Thông báo công khai thông tin; (iii) Đăng tải thông tin.
Việc công khai thông tin NNT phải bảo đảm trên các nguyên tắc và trách nhiệm sau:
Thứ nhất, nguyên tắc công khai thông tin NNT:
a) Công khai thông tin phải đúng thẩm quyền, đúng trường hợp, đúng mục đích quản lý thuế và bảo đảm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của NNT, tổ chức, cá nhân có liên quan;
"Việc công khai thông tin được pháp luật quy định và là giải pháp cấp thiết nhằm hỗ trợ cơ quan thuế các cấp thống nhất trong triển khai công tác công khai thông tin đối với NNT có vi phạm pháp luật, NNT ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03), NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (trạng thái 06) đã được cơ quan thuế mời lên làm việc nhưng NNT không chấp hành, không hợp tác để hoàn thành nghĩa vụ thuế theo đúng quy định của pháp luật.”
b) Chỉ công khai thông tin khi có căn cứ pháp lý rõ ràng, dữ liệu đã được rà soát, đối chiếu, xác minh theo quy định của pháp luật;
c) Nội dung thông tin công khai phải bảo đảm mức tối thiểu cần thiết để phục vụ quản lý thuế; việc xử lý, hiển thị, che, ẩn thông tin định danh cá nhân, thông tin cá nhân và thông tin khác có liên quan phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin mạng;
d) Công khai thông tin phải bảo đảm khả năng đính chính, cập nhật, chấm dứt công khai kịp thời khi căn cứ công khai không còn hoặc thông tin công khai không chính xác.
Thứ hai, trách nhiệm công khai thông tin NNT: Cơ quan thuế có trách nhiệm đăng tải thông tin về NNT không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật; NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; NNT ngừng hoạt động chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế lên trang thông tin điện tử ngành Thuế. Ngoài ra, tùy điều kiện thực tế, cơ quan thuế có thể công khai bổ sung thông qua phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở, họp báo, thông cáo báo chí hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, quy định về công khai thông tin NNT:
- Khoản 3 và khoản 5 Điều 7 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định:
“3. Cơ quan quản lý thuế được công khai thông tin NNT trong các trường hợp sau:
a) Trốn thuế, khoản thu khác; chây ỳ không nộp tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt đúng thời hạn; nợ tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt;
b) Vi phạm pháp luật về thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế của tổ chức, cá nhân khác;
c) Không thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
…
5. Chính phủ quy định chi tiết điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều này.”
- Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/06/2026 của Chính phủ quy định:
“Điều 4. Công khai thông tin NNT
1. Cơ quan quản lý thuế công khai thông tin về NNT thuộc các trường hợp:
a) NNT thực hiện các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Quản lý thuế cụ thể như sau:
a.1) NNT thực hiện các hành vi trốn thuế, khoản thu khác, chây ỳ không nộp tiền thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt đúng thời hạn;
a.2) Quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và các khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc hết thời hạn chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà NNT hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành;
a.3) NNT thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân khác;
a.4) NNT không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật: Từ chối không cung cấp thông tin tài liệu cho cơ quan quản lý thuế; không chấp hành quyết định kiểm tra và các yêu cầu khác của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật; không thực hiện yêu cầu giải trình của cơ quan thuế về rủi ro hóa đơn theo cảnh báo từ hệ thống ứng dụng hóa đơn điện tử của cơ quan thuế; chống, ngăn cản công chức thuế, công chức hải quan thi hành công vụ; cá nhân, tổ chức không chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà có hành vi phát tán tài sản;
b) NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; NNT ngừng hoạt động, chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; NNT tạm ngừng kinh doanh;
c) Các thông tin khác được công khai theo quy định của pháp luật.”
Để triển khai công khai thông tin NNT trạng thái 03-06, Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế các cấp quán triệt và triển khai công tác chủ động nghiên cứu quy định về việc công khai thông tin quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 7 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15; Điều 4 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ để thực hiện công khai thông tin NNT theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp, trình tự, thủ tục việc công khai, gỡ bỏ công khai thông tin theo quy định. Trong quá trình triển khai, phải thực hiện việc Báo cáo công việc liên quan đến việc công khai thông tin và gỡ bỏ công khai thông tin theo quy định tại Công điện số 18/CĐ-CT ngày 13/7/2026 của Cục Thuế.
