Eximbank: Lãi 9 tháng đạt 864 tỷ đồng, mục tiêu năm vẫn còn khoảng cách
Bức tranh tài chính quý III/2026 của Eximbank cho thấy những chuyển động trái chiều: kết quả kinh doanh chưa đạt kỳ vọng, trong khi chất lượng nợ xấu có dấu hiệu cải thiện.
Đáng chú ý, diễn biến này diễn ra cùng với sự thu hẹp đáng kể của quy mô bảng cân đối kế toán so với đầu năm, đặt ra nhiều vấn đề về hiệu quả hoạt động và định hướng tăng trưởng của ngân hàng.

Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận trước thuế đạt 864,27 tỷ đồng, giảm 57,8% so với 2.048,61 tỷ đồng cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 663,65 tỷ đồng, giảm 58,8% so với 1.609,42 tỷ đồng. Riêng quý III, lợi nhuận trước thuế là 185,79 tỷ đồng, giảm 66,8% so với 560,09 tỷ đồng của quý III/2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 144,00 tỷ đồng, so với 444,69 tỷ đồng.
Lấy số lũy kế trừ đi quý III, lợi nhuận trước thuế nửa đầu năm đạt khoảng 678,48 tỷ đồng, tức bình quân khoảng 339 tỷ đồng mỗi quý, gần gấp đôi mức của quý III. Quý III chiếm khoảng 21,5% lợi nhuận trước thuế chín tháng, so với khoảng 27,3% của năm trước. Như vậy mức suy giảm tăng tốc ở quý gần nhất. Với lợi nhuận sau thuế chín tháng quy năm, ROE tạm tính ở mức khoảng 3,4%.

Thu nhập lãi thuần 9 tháng đạt 3.865,77 tỷ đồng, giảm 9,9% so với 4.288,79 tỷ đồng. Đây vẫn là trụ cột, chiếm khoảng 82% bốn nguồn thu chính của ngân hàng. Mức giảm này khớp với việc dư nợ cho vay thu hẹp trong kỳ.
Thu nhập ngoài lãi thể hiện sự dịch chuyển rõ hơn. Lãi thuần từ dịch vụ giảm còn 108,01 tỷ đồng từ 348,07 tỷ đồng. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 166,58 tỷ đồng, so với 464,53 tỷ đồng. Tổng hai nguồn này giảm khoảng 66%, từ 812,60 tỷ đồng xuống 274,59 tỷ đồng. Ngược lại, lãi thuần từ hoạt động khác tăng 68,1%, đạt 559,36 tỷ đồng so với 332,82 tỷ đồng, và đã chiếm khoảng 67% nhóm thu nhập ngoài lãi, so với khoảng 29% cùng kỳ. Nguồn thu ngoài lãi vì thế chuyển từ các mảng hoạt động thường xuyên sang một khoản mục có tính chất khác. Mục này thường phản ánh cả các khoản thu không đều đặn, nên độ bền của nó là điểm cần đối chiếu với thuyết minh.

Chi phí hoạt động 9 tháng giảm 1,9%, xuống 2.830,48 tỷ đồng, cho thấy chi phí được kiểm soát. Tuy vậy thu nhập giảm nhanh hơn chi phí. Từ các số liệu báo cáo, tổng thu nhập hoạt động ước tính khoảng 4.692 tỷ đồng, so với khoảng 5.450 tỷ đồng của năm trước. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) vì vậy tăng từ khoảng 53% lên khoảng 60%.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 93,4%, lên 997,43 tỷ đồng, so với 515,85 tỷ đồng. Theo tính toán, lợi nhuận trước dự phòng giảm khoảng 27%, từ gần 2.564 tỷ đồng xuống khoảng 1.862 tỷ đồng. Dự phòng chiếm khoảng 54% lợi nhuận trước dự phòng, so với khoảng 20% năm trước. Trong mức giảm khoảng 1.184 tỷ đồng của lợi nhuận trước thuế, khoảng 41% đến từ chi phí dự phòng tăng thêm và khoảng 59% đến từ nguồn thu giảm. Dự phòng là nhân tố quan trọng, nhưng sức ép từ phía thu nhập cũng đóng vai trò không nhỏ.

Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản đạt 241.495,13 tỷ đồng, giảm 11,6% so với 273.270,41 tỷ đồng hồi đầu năm. Dư nợ cho vay khách hàng giảm 17,6%, xuống 151.865,59 tỷ đồng từ 184.215,86 tỷ đồng, tức giảm hơn 32.000 tỷ đồng. Tiền gửi khách hàng giảm 10,7%, xuống 158.298,92 tỷ đồng từ 177.303,88 tỷ đồng, mức giảm khoảng 19.000 tỷ đồng. Dư nợ co lại nhanh hơn huy động, trong khi giấy tờ có giá phát hành tăng 7,0%, lên 21.470,02 tỷ đồng.
Hệ quả là tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi (tính giản đơn, chưa theo công thức của cơ quan quản lý) giảm từ khoảng 103,9% xuống khoảng 95,9%. Nếu tính cả giấy tờ có giá, tỷ lệ này giảm từ khoảng 93,3% xuống khoảng 84,5%. Vốn chủ sở hữu tăng nhẹ lên 26.631,80 tỷ đồng từ 26.006,34 tỷ đồng, mức tăng gần tương đương lợi nhuận sau thuế chín tháng. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản nhích từ khoảng 9,5% lên khoảng 11,0%, phần lớn nhờ mẫu số thu hẹp.

Về chất lượng tài sản, tổng dư nợ xấu (nhóm 3 đến 5) giảm 24,7%, xuống 3.972,97 tỷ đồng từ 5.272,75 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,86% xuống 2,62%. Trong cơ cấu hiện tại, nợ nhóm 3 là 1.868,93 tỷ đồng, nhóm 4 là 437,98 tỷ đồng và nhóm 5 là 1.666,06 tỷ đồng, chiếm khoảng 42%.
Điểm cần lưu ý nằm ở nợ nhóm 2, tăng hơn gấp đôi, lên 4.613,60 tỷ đồng từ 2.191,61 tỷ đồng, tương ứng khoảng 3,0% dư nợ so với khoảng 1,2% hồi đầu năm. Cộng nợ nhóm 2 với nợ xấu, quy mô tăng từ khoảng 7.464 tỷ đồng lên khoảng 8.587 tỷ đồng, và tỷ trọng trên dư nợ tăng từ khoảng 4,1% lên khoảng 5,7%. Mức cải thiện của tỷ lệ nợ xấu vì vậy đến từ cả giảm tuyệt đối số nợ xấu lẫn việc dư nợ thu hẹp, trong khi dòng nợ cần chú ý đang dày lên.

Báo cáo cho thấy Eximbank đi qua 9 tháng với lợi nhuận suy giảm sâu, nhưng nợ xấu giảm cả về số tuyệt đối lẫn tỷ lệ, vốn chủ sở hữu tăng nhẹ và thanh khoản có thêm dư địa. Trong các quý tới, các chuyên gia kinh tế cho rằng, có bốn chỉ tiêu cần theo dõi. Thứ nhất là thu nhập lãi thuần khi quy mô tín dụng thay đổi. Thứ hai là mức độ phục hồi của thu nhập từ dịch vụ và ngoại hối. Thứ ba là độ bền của khoản lãi thuần từ hoạt động khác. Thứ tư là diễn biến của nợ nhóm 2 và nhịp trích lập dự phòng.
Hoàng Nguyễn
