Đằng sau mức tăng doanh thu gần 30% của PNJ là áp lực biên lợi nhuận
PNJ tiếp tục ghi nhận doanh thu tăng trưởng trong quý III/2026, song kết quả kinh doanh lại cho thấy sự tương phản đáng chú ý khi lợi nhuận không theo kịp đà mở rộng quy mô. Đáng chú ý, doanh nghiệp báo lỗ sau thuế 257,86 tỷ đồng, phản ánh những thách thức trong việc duy trì hiệu quả hoạt động.
Lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh thu thuần của PNJ đạt 32.703,89 tỷ đồng, tăng 29% so với mức 25.353,05 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Nếu tách riêng quý III, doanh thu đạt 6.994,69 tỷ đồng, giảm khoảng 14% so với 8.135,50 tỷ đồng của quý III/2025. Phép trừ đơn giản cho thấy nửa đầu năm 2026 doanh nghiệp ghi nhận khoảng 25.709 tỷ đồng doanh thu, vượt cả doanh thu chín tháng của năm trước. Nói cách khác, mức tăng trưởng 29% được tạo ra gần như hoàn toàn trong sáu tháng đầu năm, còn quý III là giai đoạn nhịp bán hàng chậm lại.

Điểm đáng chú ý nhất của báo cáo nằm ở khoảng cách giữa doanh thu và lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế lũy kế chín tháng đạt 470,53 tỷ đồng, giảm so với 1.610,43 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, dù doanh thu tăng gần 30%. Biên lợi nhuận sau thuế vì thế thu hẹp từ khoảng 6,3% xuống còn khoảng 1,4%.

Nhìn vào lợi nhuận gộp, xu hướng này thể hiện sớm hơn ở cấp độ biên. Lợi nhuận gộp quý III chỉ đạt 609,05 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước là 1.607,21 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp theo đó giảm từ khoảng 19,8% xuống còn khoảng 8,7%. Lũy kế chín tháng, lợi nhuận gộp đạt 3.383,12 tỷ đồng, tương ứng biên khoảng 10,3%.
Nếu loại trừ quý III, biên gộp của sáu tháng đầu năm vào khoảng 10,8%. Như vậy mức biên thấp đã xuất hiện từ trước quý III, và quý này chỉ đẩy xu hướng đó xuống sâu hơn. Số liệu gợi ý rằng tăng trưởng doanh thu của giai đoạn này đến nhiều hơn từ các nhóm sản phẩm có biên mỏng, và vì vậy mỗi đồng doanh thu tăng thêm đóng góp ít hơn vào lợi nhuận.

Theo thuyết minh, khoản lỗ sau thuế quý III chịu tác động chính từ việc tăng chi phí trích lập dự phòng tổn thất phát sinh liên quan đến chính sách thu đổi sản phẩm. Khoản dự phòng phải trả ngắn hạn cũng tăng lên 848,04 tỷ đồng tại thời điểm 30/9. Về bản chất, đây là khoản ghi nhận trước các nghĩa vụ có thể phát sinh từ chính sách chăm sóc khách hàng, chứ không phải khoản chi tiền đã thực hiện toàn bộ trong kỳ. Cách hạch toán này làm cho kết quả quý III phản ánh sớm và đầy đủ hơn các cam kết với khách hàng. Cái giá là lợi nhuận kỳ này bị ảnh hưởng, nhưng nó cũng giúp báo cáo phản ánh nghĩa vụ liên quan thay vì để chúng trôi sang các kỳ sau.
Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản của PNJ đạt 20.125,89 tỷ đồng, gần như đi ngang so với mức 20.163,63 tỷ đồng hồi đầu năm. Tuy nhiên, bên dưới con số tổng thể, cơ cấu đã có những dịch chuyển đáng kể. Tiền và các khoản tương đương tiền tăng lên 1.242,21 tỷ đồng từ 522,30 tỷ đồng, tức hơn gấp đôi.
Cùng lúc, đầu tư tài chính ngắn hạn giảm mạnh còn 82,58 tỷ đồng, từ mức 2.063,96 tỷ đồng đầu năm. Việc giảm gần 2.000 tỷ đồng đầu tư ngắn hạn trong khi tiền mặt chỉ tăng khoảng 720 tỷ đồng cho thấy phần còn lại được doanh nghiệp huy động vào hoạt động kinh doanh. Cách sắp xếp này phù hợp với một doanh nghiệp ưu tiên giữ thanh khoản sẵn sàng thay vì giữ các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Hàng tồn kho vẫn là khoản mục chi phối. Giá trị ròng đạt 16.626,19 tỷ đồng, chiếm khoảng 82,6% tổng tài sản, đây là đặc thù của ngành kinh doanh vàng bạc, đá quý, nơi hàng hóa vừa là sản phẩm vừa là tài sản tích trữ. Giá gốc hàng tồn kho là 18.855,16 tỷ đồng, và doanh nghiệp đã trích lập dự phòng giảm giá 2.228,97 tỷ đồng, tương đương khoảng 11,8% giá gốc. Mức dự phòng này tạo ra một vùng đệm đáng kể trước biến động giá và chất lượng hàng tồn, đồng thời cũng là một trong những yếu tố cần theo dõi khi đánh giá kết quả các quý tới.

Về nguồn vốn, tổng nợ phải trả đạt 6.927,22 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu đạt 13.198,67 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 65,6% tổng nguồn vốn, và hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu ở mức khoảng 0,5 lần. Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn là 4.320,57 tỷ đồng, chủ yếu là vay ngân hàng thương mại, chiếm hơn 60% tổng nợ phải trả.
Đây là kết cấu phổ biến với doanh nghiệp bán lẻ có vòng quay hàng tồn kho cao, khi nhu cầu vốn lưu động được tài trợ bằng các khoản vay ngắn hạn. Tương quan giữa các khoản mục này cho thấy hàng tồn kho đang được tài trợ chủ yếu bằng vốn của chính doanh nghiệp, với phần vay ngân hàng đóng vai trò bổ sung.
Vốn góp của chủ sở hữu tăng lên 5.118,92 tỷ đồng từ mức 3.413,19 tỷ đồng đầu năm, tức tăng đúng 50%. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối còn 2.686,97 tỷ đồng. Việc vốn góp tăng với tỷ lệ tròn như vậy, trong bối cảnh tổng tài sản gần như không đổi, cho thấy đây là sự dịch chuyển giữa các khoản mục trong vốn chủ sở hữu hơn là một lượng tiền mới được đưa vào doanh nghiệp. Điều này giải thích vì sao quy mô tài sản không thay đổi đáng kể dù vốn điều lệ được nâng lên đáng kể.
Về quy mô vận hành, đến ngày 30/9/2026 PNJ có 424 cửa hàng kinh doanh tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Số lao động đạt 7.123 người, giảm khoảng 12,8% so với 8.164 người cuối năm 2025, tức giảm hơn 1.000 người. Nếu đặt cạnh mức tăng doanh thu 29% của chín tháng, có thể thấy doanh nghiệp đang vận hành với bộ máy gọn hơn nhưng doanh số bình quân trên mỗi lao động cao hơn. Mạng lưới bán lẻ được duy trì ở quy mô lớn, trong khi nhân sự được điều chỉnh, một hướng đi thường thấy khi doanh nghiệp tìm cách cải thiện hiệu suất vận hành trong giai đoạn biên lợi nhuận chịu áp lực.
Báo cáo quý III của PNJ cho thấy một doanh nghiệp có nền tảng khá vững về tài chính, thể hiện qua cơ cấu vốn thiên về vốn chủ sở hữu, tiền mặt tăng, đầu tư ngắn hạn thu hẹp và dự phòng được ghi nhận sớm. Đồng thời, lợi nhuận của kỳ này cho thấy tăng trưởng doanh thu chưa chuyển hóa tương ứng thành lợi nhuận, với biên gộp và biên ròng cùng thu hẹp.
Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, có nhiều yếu tố cần theo dõi trong các quý tới khá rõ ràng. Thứ nhất là diễn biến biên lợi nhuận gộp, xem mức khoảng 9–11% có phải là trạng thái mới của cơ cấu sản phẩm hay chỉ là giai đoạn tạm thời. Thứ hai là mức độ phát sinh thêm của dự phòng liên quan đến chính sách thu đổi sản phẩm, và khoản dự phòng phải trả 848,04 tỷ đồng sẽ được sử dụng hay hoàn nhập ra sao. Thứ ba là giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho trong bối cảnh tồn kho chiếm tỷ trọng rất lớn trong tài sản. Các chỉ tiêu này sẽ cho thấy rõ hơn đâu là yếu tố mang tính một lần trong quý III và đâu là xu hướng kéo dài.
Hoàng Nguyễn
