Quản lý tem điện tử rượu, thuốc lá từ yêu cầu minh bạch thị trường
Trong quản lý rượu, thuốc lá, việc dán tem cần đi cùng khả năng xác thực sản phẩm và đối chiếu thông tin sản xuất. Thông tư số 93/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính đã cụ thể hóa yêu cầu này bằng những quy định về chất lượng mã QR...
...kết nối dữ liệu và trách nhiệm thực hiện, đồng thời đơn giản hóa điều kiện mua tem, làm rõ cách xử lý khi phát sinh sự cố.

Tem điện tử sẽ nâng cao tính minh bạch của thông tin sản phẩm
Rượu, thuốc lá là những mặt hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Với các sản phẩm này, tem điện tử là một công cụ phục vụ nhận diện, tra cứu và xác thực thông tin. Tuy nhiên, giá trị quản lý của con tem phụ thuộc vào dữ liệu đi kèm và khả năng sử dụng dữ liệu ấy trong thực tế.
Một sản phẩm đã dán tem nhưng mã QR không đọc được, thông tin bị che khuất hoặc dữ liệu không khớp với hàng hóa sẽ khiến việc tra cứu, đối chiếu gặp khó khăn. Vì vậy, quản lý tem điện tử cần bao quát cả quá trình từ cấp, sử dụng tem đến cập nhật thông tin và lưu thông sản phẩm. Một khi dữ liệu trở thành cơ sở quan trọng của quản lý thuế, tính chính xác và khả năng tra cứu thông tin trên từng con tem càng cần được bảo đảm.
“Những điều chỉnh tại Thông tư số 93 hướng đến việc quản lý tem điện tử chặt chẽ hơn, đồng thời tạo thuận lợi cho cơ sở sản xuất trong quá trình thực hiện. Thủ tục được đơn giản hóa, cách xử lý các tình huống phát sinh được quy định rõ, đi cùng yêu cầu cập nhật dữ liệu đầy đủ, chính xác. Đây là cơ sở để người nộp thuế chủ động tuân thủ và cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả kiểm tra, đối chiếu, góp phần tăng tính minh bạch của sản phẩm rượu, thuốc lá trên thị trường.” |
Trong bối cảnh đó, ngày 1/7/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 93/2026/TT-BTC (Thông tư số 93) quy định việc in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu, thuốc lá. Thông tư có hiệu lực từ cùng ngày, thay thế Thông tư số 23/2021/TT-BTC, đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 31/2025/TT-BTC.
Nhìn từ các nội dung sửa đổi, Thông tư tập trung giải quyết hai yêu cầu có quan hệ trực tiếp với nhau. Đó là nâng độ tin cậy của thông tin phục vụ quản lý và điều chỉnh thủ tục để người nộp thuế có cơ sở thực hiện rõ ràng, thuận tiện hơn. Việc đơn giản hóa điều kiện mua tem đối với rượu sản xuất trong nước cũng nhằm phù hợp với Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP của Chính phủ.
Trước hết, Thông tư bổ sung yêu cầu mã QR phải bảo đảm khả năng đọc, tra cứu, xác thực bằng phương tiện kỹ thuật phù hợp. Việc dán tem phải giữ được thông tin nhận diện, tránh che khuất, tẩy xóa, biến dạng hoặc mất khả năng xác thực trong điều kiện bảo quản, vận chuyển và lưu thông thông thường.
Với rượu, thuốc lá sản xuất để tiêu thụ trong nước, dữ liệu tem điện tử phải được cập nhật ngay khi xuất tem cho bộ phận sản xuất. Cơ sở sản xuất quét mã QR trên thùng tem, block tem hoặc từng tem điện tử, đồng thời nhập thông tin về tên hàng hóa, thời gian sản xuất, đơn vị đo lường và đơn giá bán. Nếu chưa xác định được giá bán, cơ sở sử dụng đơn giá tạm tính. Những thông tin này được truyền đến Hệ thống thông tin quản lý thuế và phải được điều chỉnh khi phát hiện sai sót.
Việc cập nhật dữ liệu giúp mỗi con tem gắn với thông tin cụ thể về sản phẩm và cơ sở sản xuất, tạo căn cứ để tra cứu, đối chiếu khi hàng hóa lưu thông trên thị trường. Khi những thông tin này được ghi nhận đầy đủ, chính xác, cơ quan quản lý có thêm cơ sở kiểm tra sự phù hợp giữa dữ liệu tem và sản phẩm thực tế. Đây cũng là giá trị thiết thực của quy định mới, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và trách nhiệm của cơ sở sản xuất đối với hàng hóa đưa ra thị trường.
Thông tư cũng phân định Cục Thuế quản lý dữ liệu tem của sản phẩm sản xuất để tiêu thụ trong nước, Cục Hải quan quản lý dữ liệu tem của sản phẩm nhập khẩu. Yêu cầu về mã quản lý duy nhất, phân quyền truy cập, bảo mật và lưu vết xử lý giúp xác định rõ trách nhiệm khi khai thác, trao đổi thông tin.
Thuận lợi trong thủ tục phải đi cùng trách nhiệm tuân thủ
Một chính sách quản lý bằng dữ liệu chỉ vận hành hiệu quả khi người thực hiện biết rõ phải làm gì, xử lý thế nào nếu có sai sót hoặc sự cố. Những điều chỉnh tại Thông tư số 93 góp phần đáp ứng yêu cầu đó, giúp người nộp thuế thực hiện quy định thuận tiện hơn và có căn cứ rõ ràng để xử lý các tình huống phát sinh.
Thông tư bỏ yêu cầu phải có Giấy phép sản xuất rượu khi mua tem điện tử đối với rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước. Đây là sự đơn giản hóa điều kiện mua tem; cơ sở sản xuất vẫn phải tuân thủ pháp luật chuyên ngành về sản xuất, kinh doanh rượu. Phân biệt rõ hai phạm vi này giúp tránh cách hiểu rằng thủ tục mua tem được giảm thì các nghĩa vụ khác cũng được miễn.
Thông tư cũng quy định cách xử lý trong trường hợp Hệ thống thông tin quản lý thuế gặp lỗi kỹ thuật, chưa tiếp nhận được dữ liệu tem điện tử đã dán. Trong hai ngày làm việc kể từ ngày Cục Thuế thông báo hệ thống hoạt động bình thường trở lại, cơ sở sản xuất phải chuyển dữ liệu của tem điện tử đã dán đến cơ quan thuế. Việc gửi dữ liệu trong thời hạn này không bị coi là chậm gửi dữ liệu tem điện tử.
Khi xảy ra mất, cháy tem điện tử, đơn vị phải lập biên bản xác định thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, có xác nhận của chính quyền địa phương cấp xã nơi xảy ra việc mất, cháy tem và lưu biên bản tại đơn vị. Các thời hạn báo cáo mất, cháy tem, hủy tem khi tìm lại được tem đã mất và thông báo kết quả hủy được rút từ năm xuống ba ngày làm việc. Thời hạn ngắn hơn đòi hỏi cơ sở sản xuất tổ chức theo dõi, xử lý kịp thời các biến động về tem. Bên cạnh đó, tem điện tử rượu, thuốc lá đã được phát hành, in theo mẫu quy định tại Thông tư số 23/2021/TT-BTC đơn vị phát hành tem được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết./.
