Lãi vay hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước
Từ chỉ đạo điều hành đến động thái cụ thể của các ngân hàng, mặt bằng lãi vay đang đứng trước đợt điều chỉnh mới. BIDV, Vietcombank và Agribank lần lượt công bố các chương trình giảm lãi vay tới 2%/năm, mở ra thêm cơ hội tiếp cận vốn với chi phí hợp lý cho doanh nghiệp và người dân.
Từ yêu cầu của Chính phủ đến văn bản điều hành
Chỉ đạo lần này xuất hiện trong bối cảnh chi phí vốn của doanh nghiệp và người dân còn cao. Sau cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ ngày 16/10, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhận định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, kinh doanh và khả năng tiếp cận tín dụng. Người đứng đầu ngành ngân hàng được yêu cầu đánh giá, rút kinh nghiệm về các giải pháp ổn định lãi suất thời gian qua và sớm có biện pháp hạ lãi vay, trong đó lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên cần giảm từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm mỗi năm. Thống đốc được giao trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hiệu quả của các giải pháp này, đồng thời bảo đảm thanh khoản cho hệ thống.
Ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước cụ thể hóa yêu cầu bằng Công văn số 9608/NHNN-CSTT. Văn bản đòi hỏi các tổ chức tín dụng tập trung nguồn lực, tiết giảm chi phí và chia sẻ lợi nhuận để kéo mặt bằng lãi suất đi xuống. Ở chiều huy động, trước mắt các ngân hàng phải hạ tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất. Ở chiều cho vay, mục tiêu là giảm 1,5 đến 2%/năm đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Các ngân hàng cũng được nhắc kiểm soát chặt lãi dự thu để kết quả kinh doanh phản ánh đúng thực chất.
Việc yêu cầu điều chỉnh đồng thời cả hai đầu cho thấy cơ quan điều hành nhìn nhận chi phí vốn đầu vào là một trong những nút thắt của lãi vay. Nói cách khác, giảm lãi suất cho vay không thể tách rời giảm áp lực trên thị trường huy động.

Ba ngân hàng quốc doanh mở đường
Phản ứng đầu tiên đến từ nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối. BIDV triển khai chương trình tín dụng ưu đãi trên toàn hệ thống từ ngày 15/10, với lãi suất cho vay từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2 điểm phần trăm so với mức thông thường. Chương trình áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam, tập trung vào những ngành, lĩnh vực ưu tiên và phải đáp ứng điều kiện cấp tín dụng của ngân hàng.
Tại phiên thảo luận tổ về dự án sửa đổi, bổ sung một số luật chiều 17/10, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho biết ngân hàng cam kết giảm tối thiểu 2%/năm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. Cuối ngày 18/10, Agribank thông báo từ 19/10 sẽ giảm lãi vay tới 2%/năm so với mức thông thường, tập trung vào lĩnh vực ưu tiên và khách hàng sản xuất, kinh doanh, với nguồn lực dự kiến khoảng 2.000 tỷ đồng.
Do nhóm ngân hàng này chiếm thị phần lớn, động thái của họ có sức dẫn dắt đối với phần còn lại của thị trường. Tuy nhiên, cần nhìn đúng phạm vi của các chương trình: chủ yếu áp dụng cho vay ngắn hạn, các lĩnh vực ưu tiên và những khách hàng đáp ứng điều kiện. Đây là bước đi đầu tiên, chưa phải mức giảm đồng loạt trên toàn bộ dư nợ.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân tháng 8 đạt 10,7%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước và cao hơn khoảng 3 điểm phần trăm so với các khoản vay giải ngân cách đó một năm. Trong khi đó, mặt bằng chung của các ngân hàng thương mại trong nước nằm trong khoảng 8,4 đến 10,7%/năm, còn lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Trên thực tế, tùy thời hạn, mục đích vay, tài sản bảo đảm và lịch sử tín dụng, người vay có thể phải chịu mức 12 đến 13%/năm.

Ở chiều ngược lại, từ cuối tháng 4 lãi suất niêm yết cao nhất hệ thống, chưa tính các khoản tiền gửi lớn hoặc khách hàng VIP, đã lên vùng 7,6 đến 7,8%/năm, còn mức ưu đãi thực tế tại nhiều ngân hàng dao động 8,5 đến 9,5%/năm. Báo cáo của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy đến ngày 20/9, lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới là 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái. Tháng 8, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 6,5 đến 8%/năm cho kỳ hạn 6 đến 12 tháng và 7,2 đến 8,1%/năm cho kỳ hạn trên 24 tháng. Việc điều chỉnh theo yêu cầu mới của Ngân hàng Nhà nước sẽ cần thêm thời gian để phản ánh đầy đủ trên biểu lãi suất.
Theo số liệu Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổng hợp từ 26 ngân hàng niêm yết đến cuối quý II cho thấy tín dụng tăng 9% so với đầu năm, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 5,5%, đẩy chi phí vốn bình quân lên 4,8%, cao hơn hơn 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Đến ngày 28/9, huy động vốn của toàn hệ thống tăng 9,78% so với cuối năm ngoái, vẫn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng tín dụng. Khi vốn đầu vào đắt, dư địa giảm lãi vay chủ yếu phải đến từ tiết giảm chi phí vận hành và chia sẻ lợi nhuận, đúng như tinh thần của công văn.
Bên cạnh đó, bối cảnh bên ngoài chưa thuận lợi. Các văn bản điều hành đều thừa nhận diễn biến thế giới phức tạp tạo áp lực lên điều hành lãi suất, tỷ giá và lạm phát, trong khi nợ xấu và rủi ro trong hoạt động ngân hàng vẫn còn tiềm ẩn. Bài toán của cơ quan điều hành vì thế là hạ chi phí vốn cho nền kinh tế nhưng không đánh đổi sự an toàn của hệ thống.
Điểm đáng chú ý của Công văn 9608 là các chế tài đi kèm. Tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo về lãi suất hoặc cạnh tranh không lành mạnh có thể bị xem xét giảm hạn mức tín dụng còn lại của năm 2026, giao chỉ tiêu thấp hơn vào năm 2027 hoặc bị áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn. Người đứng đầu các tổ chức tín dụng, gồm chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc và các bộ phận kiểm soát liên quan, phải chịu trách nhiệm thực hiện. Hạn mức tăng trưởng tín dụng vốn là tài sản quý của các ngân hàng, nên đây là công cụ có sức răn đe thực chất.
Về cách giảm cho bền vững, nhiều chuyên gia tài chính cho rằng, các ngân hàng cần tiếp tục số hóa quy trình, tinh gọn bộ máy để giảm chi phí quản lý, tăng tỷ trọng nguồn vốn huy động dài hạn và tận dụng các gói tái cấp vốn ưu đãi của Ngân hàng Nhà nước cho lĩnh vực ưu tiên. Vị chuyên gia cũng đề xuất công khai bảng lãi suất để thu hẹp chênh lệch giữa ngân hàng lớn và nhỏ, đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp theo dòng tiền thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp, đồng thời mở rộng quy mô Quỹ bảo lãnh tín dụng để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn.
Các chuyên gia đưa ra nhận định rằng, làn sóng giảm lãi suất mới chỉ bắt đầu, và hiệu quả sẽ được thẩm định qua ba chỉ dấu. Thứ nhất, các ngân hàng thương mại cổ phần có đi theo nhóm quốc doanh hay không. Thứ hai, mức giảm có lan tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn thường không thuộc nhóm khách hàng được ưu đãi nhất, hay chỉ dừng ở các chương trình có điều kiện. Thứ ba, lãi suất tiền gửi có hạ nhiệt đúng như yêu cầu để tạo nền cho lãi vay giảm bền vững hay không.
Với người vay, việc cần làm trước mắt là chủ động tìm hiểu điều kiện cụ thể của từng chương trình, đối chiếu biểu lãi suất ngân hàng công bố và thời hạn áp dụng. Với cơ quan quản lý, thách thức nằm ở khâu giám sát thực thi để mục tiêu giảm 1,5 đến 2%/năm đến được với đúng đối tượng cần hỗ trợ. Khi chi phí vốn của doanh nghiệp giảm thật sự, lợi ích sẽ lan tỏa sang sản xuất, việc làm và tăng trưởng, đó mới là thước đo cuối cùng của đợt điều chỉnh này.
Hoàng Nguyễn
