Bất động sản công nghiệp, cơ hội “đổi đời”

Thứ Tư, 01/05/2019 11:14
Làm việc trong các khu công nghiệp mang lại cơ hội đổi đời cho hàng triệu thanh niên Việt Nam và bản thân nhà đầu tư bất động sản công nghiệp cũng đang có cơ hội lớn để... lên đời.

Làm việc trong các khu công nghiệp mang lại cơ hội đổi đời cho hàng triệu thanh niên Việt Nam và bản thân nhà đầu tư bất động sản công nghiệp cũng đang có cơ hội lớn để... lên đời.

Bất động sản công nghiệp, cơ hội “đổi đời”

Cánh cửa rộng mở từ dòng vốn ngoại

Trò chuyện với phóng viên trong khu ký túc xá khang trang dành cho công nhân của Khu công nghiệp Samsung Bắc Ninh SEV (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), nữ công nhân Võ Thị Thơ (23 tuổi, quê huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) cho biết, cô đã có 5 năm làm công nhân tại khu công nghiệp này.

Hiện tại, mức lương cơ bản của cô tầm 8 triệu đồng/tháng và có tăng thêm nếu tăng ca.

Với Nguyễn Thị Hải, 25 tuổi, tính đến ngày 2/9/2018, cô cũng đã bước chân vào Samsung Bắc Ninh được 6 năm kể từ khi tốt nghiệp phổ thông trung học. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, Hải phải tạm gác giấc mơ đại học, thi tuyển vào nhà máy điện Samsung.

Hơn 6 năm làm việc, từ nhân viên sản xuất đứng máy ở dây chuyền lắp ráp, hiện Hải làm việc ở khối văn phòng, bộ phận hành chính GA, chịu trách nhiệm quản lý về bữa ăn cho công nhân trong một canteen của nhà máy. Mức lương hàng tháng mà Hải nhận được ở đây gần gấp đổi số tiền có thể tích lũy trong nửa năm của nhiều người ở quê Hải nếu họ chỉ làm nông nghiệp.

ảnh 1

Thơ, Hải cũng như hàng vạn công nhân đã thay đổi kỹ năng lao động và đặc biệt là thay đổi cuộc sống gia đình sau khi Việt Nam được nhiều doanh nghiệp nước ngoài lớn như Samsung lựa chọn làm cứ điểm sản xuất.

Những chính sách thông thoáng và cạnh tranh trong thu hút đầu tư, giúp Việt Nam có bước tăng trưởng thần tốc trong việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong những năm gần đây. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt công ty sản xuất và các chuỗi cung ứng nước ngoài đã lựa chọn Việt Nam để xây dựng nhà máy sản xuất.

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường là nhờ định hướng của Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế tập trung vào xuất khẩu, việc xúc tiến thành lập các khu công nghiệp và kinh tế trọng điểm, sự tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong những năm gần đây và việc sở hữu lực lượng lao động trẻ, dồi dào, chi phí thấp.

Những yếu tố này đã góp phần thu hút một lượng vốn đầu tư đáng kể từ các tập đoàn nước ngoài. Năm 2018, tổng vốn FDI cam kết đạt gần 35,46 tỷ USD; tổng vốn FDI vào khu công nghiệp, khu kinh tế và vốn tăng thêm đạt trên 8,3 tỷ USD. Chiến lược thu hút FDI đang được xây dựng hướng tới nguồn vốn FDI thế hệ mới với tiêu chuẩn cao về công nghệ và phát triển bền vững.

Số liệu từ Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, trong 11 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế mới tăng thêm 8,3 tỷ USD. Theo đó, các khu công nghiệp, khu kinh tế đã đăng ký đầu tư cho khoảng 560 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 5,3 tỷ USD và tăng vốn cho gần 500 dự án FDI với tổng vốn đầu tư tăng thêm hơn 3 tỷ USD.

Lũy kế đến hết tháng 11/2018, các khu công nghiệp, khu kinh tế đã thu hút được khoảng 7.500 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 970.000 tỷ đồng và khoảng 8.000 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 145 tỷ USD.

Rộng cửa bất động sản công nghiệp

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và sự bùng nổ dự án FDI vào Việt Nam đã góp phần quan trọng thúc đẩy bất động sản công nghiệp phát triển.

Tính đến hết tháng 11/2018, cả nước có 326 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 93.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp đạt gần 64.000 ha, chiếm khoảng 68% tổng diện tích đất tự nhiên.

ảnh 2

Nền kinh tế hướng đến xuất khẩu tạo động lực cho bất động sản công nghiệp phát triển.

Số liệu thống kê của Công ty Tư vấn Jone Lang Lasalle cho thấy, giá cho thuê bất động sản khu công nghiệp tại Việt Nam đang khá cạnh tranh so với mặt bằng của các nước trong khu vực, nhưng Việt Nam lại có ưu thế nhiều hơn về thủ tục đầu tư cũng như ưu đãi thuế.

Cũng theo báo cáo của Jone Lang Lasalle, từ đầu năm 2019 đến nay, nhu cầu bất động sản khu công nghiệp tại phía Bắc tiếp tục tăng cao nhờ đà tăng trưởng mạnh của ngành sản xuất công nghiệp. Tỷ lệ lấp đầy trong quý I/2019 đạt trung bình ở mức 72% ở 5 tỉnh, thành phố năng động nhất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, dẫn đầu là Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên.

Các tỉnh, thành phố này đều sở hữu các tiêu chí quan trọng để nâng đà tăng trưởng như hệ thống cơ sở hạ tầng kết nối với các thị trường tiêu dùng lớn được đồng bộ hóa, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từ phía chính quyền địa phương liên tục được cải thiện, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Theo đánh giá của ông Hans Kerstens, phụ trách kinh doanh Khu công nghiệp Deep C Hải Phòng, một nhà sản xuất chọn Việt Nam làm điểm đến thì ngoài vấn đề giá đất, họ còn quan tâm tới chi phí giá điện, giá nước, giá sinh hoạt…, đặc biệt là mức lương sản xuất trung bình.

Hiện nay, mức lương sản xuất trung bình của Việt Nam chỉ bằng 1/4 so với các nước khác trong khu vực. Ðây là một trong những lý do chính tạo nên sự dịch chuyển của các doanh nghiệp FDI từ thị trường lớn là Trung Quốc tới Việt Nam. Bên cạnh đó, sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam còn tới từ nhiều chính sách ưu đãi về thuế như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân...

"Tính tổng cộng các chi phí ấy, bất động sản công nghiệp tại Việt Nam đang có lợi thế để thu hút doanh nghiệp nước ngoài", ông Hans nhấn mạnh.

Nhưng cần cải cách mạnh mẽ hơn

"Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn từ xu hướng dịch chuyển dòng vốn quốc tế. Điều này khiến cho bất động sản công nghiệp là một trong những phân khúc đầu tư hấp dẫn nhất hiện nay, cả trong ngắn hạn và trung hạn", ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam nhận xét trong phần mở màn Diễn đàn Bất động sản công nghiệp diễn ra trong tuần vừa qua. 

Tuy nhiên, ông Nam cũng đặt câu hỏi là làm thế nào để Việt Nam có thể tiếp tục tận dụng tốt cơ hội này?

Một thực tế, như TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) chia sẻ, là các mô hình phát triển khu công nghiệp hiện nay chưa thực sự phát triển và đáp ứng với nhu cầu trong bối cảnh mới. Bởi dù đã được đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng, nhưng yếu tố này chưa thực sự hoàn thiện và đầy đủ. Bên cạnh đó, các công ty phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm xây dựng, quản lý cũng như thiếu nguồn vốn.

Cả nước đã có khoảng gần 100.000 ha đất dành riêng cho các khu công nghiệp, song đầu tư cho bất động sản công nghiệp, bao gồm đất công nghiệp, nhà xưởng xây sẵn, nhà kho và các bất động sản hậu cần khác tại Việt Nam vẫn đang ở mức sơ khai.

Nhìn chung, nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại Việt Nam có thiết kế xây dựng, thiết kế kho và hạ tầng chưa đạt chuẩn, không bắt kịp nhu cầu của doanh nghiệp. Đặc biệt, chất lượng quản lý cũng như chất lượng xây dựng vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của các công ty đa quốc gia.

Phát biểu từ vị trí một doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, ông Yoshio Saeki, Giám đốc điều hành, Trưởng Bộ phận Phát triển Hải ngoại, FUJITA CORP cho rằng, Việt Nam vẫn là thị trường số 1 để đầu tư.

"Tuy nhiên, điểm yếu tại Việt Nam đó là các khu công nghiệp của Việt Nam không có cảng nước sâu. Nguồn nhân lực cần đào tạo để có chất lượng cao hơn hiện tại, mặc dù người Việt Nam rất cần cù và chịu khó. Bên cạnh đó, những người lao động không có nhà ở, trường học của con em họ ở gần khu làm việc. Chúng tôi mong muốn cùng Chính phủ Việt Nam giải quyết phần nào vấn đề này", ông Yoshio Saeki cho biết.

Bên cạnh đó, theo bà Trang Bùi, Giám đốc Thị trường Jone Lang Lasell Việt Nam, ngoài vấn đề cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động công nghiệp, Việt Nam đối mặt với thực trạng các thủ tục hành chính, thuế quan để đưa sản phẩm hàng hoá xuất nhập khẩu phục vụ ngành công nghiệp chưa hiệu quả, thời gian kéo dài, gây ảnh hưởng đến hoạt động của các khu công nghiệp.

Chi phí giao dịch qua biên giới, bao gồm chi phí tuân thủ tài liệu thủ tục và chi phí xuất nhập khẩu ở Việt Nam kém cạnh tranh hơn so với hầu hết các nước trong khu vực. Trong đó, chi phí tuân thủ tài liệu thủ tục chiếm hơn 30% so với chỉ 10 - 15% ở các nước phát triển như Singapore. Sự khác biệt đáng kể trong cấu trúc chi phí cho thấy nhóm chi phí tuân thủ tài liệu thủ tục cần tập trung cải thiện nhiều hơn.

Theo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu của WEF năm 2017 - 2018, Việt Nam đạt mức tăng tương đối khiêm tốn, đạt hạng 55, theo sát sau là Philippines (hạng 56). Việt Nam vẫn cần cố gắng để đạt được những cải tiến đáng kể trên tất cả các phương diện, đặc biệt là đối với các chỉ số về yêu cầu cơ bản (thứ 75) và giáo dục (thứ 84) trong bối cảnh các doanh nghiệp đang dần nhận thấy rằng, việc thiếu lực lượng lao động có trình độ đang là trở ngại đáng kể cho hoạt động kinh doanh.

Việt Dương
Theo ĐTCK

Mobile Sliding Menu